LỐI VỀ

28/01/200912:00 SA(Xem: 53280)
LỐI VỀ
LỐI VỀ
      Xin thắp một nén hương lòng, tưởng nhớ !
      Chiều cuối bãi Tiên Sa trông thật thê lương ! Có lẽ không chữ nào để diễn tả nỗi? Nguyên đành tìm lối về, và tự an ủi. Nếu không may thì cả gia đình đã nằm yên ở đây, giữa những đồ đạt ngổn ngang để đợi chờ quân đội nhân dân anh hùng đẩy hết những thứ gọi là “rác rưởi” ra biển Đông, xóa sạch dấu vết do những chùm đạn pháo từ đỉnh Hải Vân bắn sang, xua đuổi những đám người muốn bỏ chạy. Lâu sau, những “rác rưởi” vẫn tiếp tục bị đẩy ra biển, một phần đã hòa tan vào muối mặn của đại dương, một phần lớn đã biến thành những “rác ngọc, rác vàng” làm phân bón cho dải đất hình cong chữ S thêm màu, thêm mỡ.
     Cũng không vội đưa gia đình trở về Huế vì thảm cảnh của Tết Mậu Thân năm nào, vẫn còn rõ nét trong tim óc của Nguyên. Làm sao quên được khi trong khoảng sáu - ngàn - người bị chôn sống, đa số là thanh niên trai trẻ gồm cả đám bạn thân, đang còn lê gót nơi sân trường đại học với những ước mơ hồn nhiên của tuổi mới lớn, chưa biết hận thù, dù chiến tranh đang cận kề. Những ngày với dấu chấm hết to tướng, cũng chạy ngựơc chạy xuôi gặp tìm từng đứa bạn thân, từng gia đình bà con, quen biết, để coi ai ở ai đi, ai còn ai mất.Và mong quên đi những nuối tiéc là đã trễ chuyến tàu, chuyến bay của mấy người thân để trốn chạy ( Chiếc shinook đáng lẽ Nguyên đã cùng đi ,đã bị bắn ở Sa Huỳnh, người phi công mới được cải táng năm rồi. Hơn 30 năm bộ áo bay còn giữ màu cứt ngựa, gói gọn bộ xương tàn của một người đã thỏa chí tang bồng ). Thôi thì, người ta sao mình vậy. Cũng đành nhắm mắt đưa chân&chấp nhận những rủi ro đang đến, vì thế mà theo nhau trình diện.
      Cánh cống sắt khách sạn Cường Để Đà Nẵng đóng kín, vang vọng một âm thanh ghê rợn. Bộ đội giải phóng đạn lên nòng. Sẳn sàng nhận lệnh. Ngoài kia thì giới nghiêm, còi hụ inh ỏi. Trong nầy cả đám tàn binh đợi kêu tên mình. Leo lên xe. Những chiếc xe motolova bịt bùng. Hơn ba mươi năm rồi, Nguyên không nhớ nỗi? Sống bằng cách nào trong khoảng thời gian hơn hai tuần lễ, mới có một ít gia đình liên lạc được với những người chồng, người cha, người con&Trong khi leo lên xe mỗi người chỉ vỏn vẹn một bộ áo quần đang mặc, một ít tiền trong túi , và&cũng may, cái “bửu bối” còn dính chặt.
      Dưới bảng hiệu “ Không có gì&” còn nguyên mùi sơn, mùi gỗ mới được dựng vội vã trên cổng vào quận lỵ Điện Bàn. Một bảng hiệu khác, bằng vải, to lớn hơn với hàng chữ Trung Tâm Học Tập Chính Trị Vĩnh Điện, cũng nền đỏ chữ vàng, những màu sắc của chiến thắng ! màu của máu và da của con Hồng cháu Lạc! Và cả ngàn sĩ quan ưu tú được gọi bằng “trại viên”, oai hết chỗ nói ! Được chia thành tổ, đội. Được nhét chung vào những phòng của quận, chi khu cũ. Sinh hoạt những ngày đầu khá thoải mái. Lang thang tìm những thứ như bi đông, ca, ống đạn để đựng nước.Những bao cát để làm khăn, làm chăn đắp. Những túi đạn, túi mặt nạ, ba lô để thu giấu những thứ vừa kiếm được. Những viên thuốc lọc nước để chống tiêu chảy&Lang thang phòng nầy qua phòng nọ, tán gẫu, trao đổi tin tức. Buổi chiều từng toán được thay phiên, dẫn ra sông tắm. Cả đám trần truồng. Nhìn xe, người ngược xuôi trên quốc lộ 1, vẫn những nét mặt bồn chồn, lo lắng. Cũng nhờ thế mới “thả” được những lá thư ghi rõ địa chỉ người nhà, nhờ ai đó gửi hộ. Buổi tối, tập họp điểm danh, ngồi nghe tin tức, tiên đoán về Sàigòn, rồi sẽ ra sao trong khi phải “ngắm nhìn” các bộ đội gái ngồi chồm hỗm trên hàng ghế trước mặt, để đợi đến phiên mình biểu diễn những câu hò chống Mỹ cứu nước! Trong những sinh hoạt trại, anh Ngô Văn Vi, cựu sĩ quan trại giam Phiến Cọng, tình nguyện phụ trách ẩm thực được khen ngợi sớm nhất, được thăng chức kỷ sư bếp trưởng nhanh nhất. Khen ngợi cũng phải vì với những cái chảo to tướng không nắp đậy, với những cái xẻng để trộn và xúc cơm. Những miếng gỗ thông được tháo ra từ những két đạn pháo mà vẫn có cơm chín, chia đều từng vắt cho các trại viên, không có ai trả lại. Còn một lớp cơm cháy mỏng, thật dòn dành tặng cho những anh em quen biết để thêm sức ( ! ) mà viết báo tường, để thêm lời ca ngợi quân đội vùng lên, nhân dân anh hùng, để thêm mạnh tay, vỗ mừng nước nhà “nhất thống” !
      Ngày sinh nhật Bác khá rộn ràng, sinh hoạt văn nghệ chu đáo hơn và lâu hơn. Trang trọng hơn nữa là bức chân dung chủ tịch được anh Nguyễn Thanh Toán, tốt nghiệp Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế, dùng mười ngón tay nhúng vào sơn để vẽ, được yêu cầu vẽ đi, vẽ lại nhiều lần để có được nụ cười tươi vui. To đẹp hơn, với họa phẩm được xé từ những tờ Thế Giới Tự Do, Chiến Sĩ Cọng Hòa&, những tờ báo “phản động” đốt chưa hết, dán phủ kín một bức tường lớn, cảnh miền Nam giải phóng do các họa sĩ và cả nhạc sĩ góp tay. Thấy nên thơ lạ lùng ! Đặc biệt hơn, sau bài phát biểu của chủ tịch huyện ủy Tư Thông kiêm cán bộ trưởng trại là bài đọc của bác sĩ Phạm văn Lương trưởng ban y tế, một con người luôn hăng say với công việc, với gần năm mươi y sĩ phụ tá, chăm lo vệ sinh của trại, mong giữ sức khỏe tốt cho gần một ngàn “trại viên” , để mà về. Được gần gũi với ban quản lý trại, lại còn có dịp được cho phép tiếp xúc với phái đoàn báo chí Đông Đức đến “thăm” tù binh chế độ Sàigòn. Những ca ngợi về Đại Thắng Mùa Xuân, về Rừng Vàng Biển Bạc&không cần nghe cũng biết ông ta sẽ nói gì rồi. Đọc chưa hết bài đã gây xôn xao, và thật sửng sốt cho hầu hết những người ngồi nghe “cực chẳng đã”, những người thực sự đang bị cầm giữ, không biết ngày mai sẽ ra thế nào. Ông đã đưa ra một sự so sánh, một lý luận ( logic!) để ca ngợi công đức Hồ chủ tịch lớn hơn cả Chúa Giêsu và Phật Thích Ca !
Với gan dạ của một bác sĩ trẻ đã từng mang áo giáp để giải phẫu, lấy đầu đạn M79 ra khỏi thân mình một cán binh, như một huyền thoại. Với nhiệt huyết của một thành viên trong nhóm Sóng Thần, trong đó có bác sĩ Hà Thúc Nhơn đã thấy rõ những đối xử không tử tế với thương bệnh binh ở quân y viện Nguyễn Huệ, Qui Nhơn, và rồi ôm lựu đạn ngồi trước Hạ Viện ngày nào để mong bớt đi những tham nhũng của những người có quyền cao, chức trọng. Với niềm tin vào tương lai đất nước sau ngày “giải phóng” sẽ được đi đây đi đó để vạch trần tội ác Mỹ ngụy, sau mười ngày hoặc vài ba tháng học tập chính trị trở về như anh Nguyễn Chi Lý, Trần Dư đã từng tâm sự ? Hay là còn tin vào nguồn tin của BBC, bác sĩ Phạm Văn Lương sẽ được chính phủ CMLT mời giữ một bộ nào đó ! Hay là với năng động của tuổi trẻ mang dòng máu du ca, đã từng đi về những vùng quê, những vùng xôi đậu, chia sẻ những khổ đau của dân mình, rất thanh thản. Hay sẳn tinh thần lương y như từ mẫu, quá sung sướng vì thấy đất nước hòa bình, không còn bom rơi đạn lạc, không còn gặp những cảnh xảy ra hàng ngày ở quân y viện Duy Tân. Với gì đi nữa, Nguyên và các bạn rất phẫn nộ về những gì được nói ra từ miệng của một người anh em, đã phát biểu bằng lời, được ghi chép trên giấy trắng mực đen. Bắt đầu đâm sau lưng chiến sĩ !
      Ba tháng sau khóa học bế giảng, Nguyên và cả trại được lệnh sẵn sàng “hành quân”. Không phải là trở về nhà mà được “lên non tìm động hoa vàng&”( mà tìm vàng thật vì Nguyên đã có dịp theo toán cán bộ địa chất từ Hà nội đưa vào, khảo sát mỏ vàng Bồng Miêu, và cùng công nhân tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng ngâm mình dưới suối, đãi vàng một thời gian, góp nhặt ngày nầy qua tháng nọ, để đúc câu khẩu hiệu “Đời đời nhớ&đại” gắn vào chốn Ba Đình cho giàu đẹp hơn ). Từng toán bám sát nhau theo đường mòn mà đi, đi mãi. Mỏi chân, hỏi cán bộ hướng dẫn, ai cũng đều trả lời là còn một khâu rựa, ở đoạn nào cũng được trả lời như thế, khiến Nguyên thêm hoang mang về khoảng cách của một khâu rựa. Bao xa ? Cuối cùng cũng đến đích, “lưng tựa đất vồng giỗ giấc ngủ yên”.
      Bác sĩ Phạm Văn Lương được phân công phụ trách trạm xá tù của tổng trại Kỳ Sơn do trung đoàn 5 cai quản. Những ngày đầu lo phát quang, chặt cây, cắt tranh dựng trại, anh cũng từng bị cán bộ Ông Văn Chiến, trưởng trại trạm xá phê bình : “bác sĩ gì mà không biết đánh tranh ”. Lần hồi ông mới rõ khả năng của một y sĩ cách mạng, không cần phải qua trường lớp nhưng phải qua những thứ khác. Ông phải giải phẫu anh em mình không cần gây tê mê, học cách chế những viên dược thảo như xuyên tâm liên, hà thủ ô&, biết cách nấu những nồi nước cất, và phải thành thạo “khâu cải thiện” để sống còn. Lần hồi khoảng cách không còn như giữa bác sĩ và bệnh nhân mà là anh em đồng cảnh, biết chia sẻ cho nhau. Và ngạc nhiên hơn là những tâm tình giữa ông trại trưởng và bác sĩ tù thường hay xảy ra mà nhiều anh em trạm xá cũng tìm cách nghe ngóng.
      Đúng một năm sau ngày “tập trung học tập chính trị”, anh đã dứt khoát ra đi, đi không một lời từ biệt, đi không một lời trăn trối. Nhưng chính cái ngày năm tháng tư của đúng một năm sau, anh đã để lại cho anh em biết bao điều để mà nghĩ suy. Dù thân xác được cuốn vội vàng trong mảnh chiếu bao quanh bằng những thanh tre ( dành để chẻ hom tranh ), với những sợi mây được vót sẳn (để cột nhà ), anh em bạn tù đã được cán bộ Chiến cho phép chôn anh dưới chân đồi bên hông trại 4 Kỳ Sơn, sát con lộ vô ra trại. Đứng ở bên nầy trạm xá cũng nhìn thấy tảng đá lớn ngay trước mộ, được chôn thật sâu như một tấm bia tưởng niệm, và cũng là cột mốc cho gia đình anh dễ kiếm tìm. Anh em trại 1 và trại 3 Kỳ Sơn có dịp thăm nuôi, hoặc đi làm hướng tổng trại, cũng có dịp nhìn thấy nơi anh yên nghỉ, thầm thì một lời chào, nghĩ về thân phận mình. Anh đã mang theo những cảm thông và tiếc thương của những người đồng hội, đồng thuyền, dù có lúc đã coi anh như người xa lạ, ghét anh hơn ghét kẻ thù, và sợ anh hơn cả những người đang say men chiến thắng. Cầu mong anh ngủ yên ở một nơi nào đó, một cõi vĩnh hằng, không còn những đọa đày, không còn những thù hận, và hết những bon chen.
***
      Nguyên gặp Thi từ ngày có dịp về thăm bà con ở xóm Sáo Hương Điền, bên phá Tam Giang nhân một mùa nghỉ hè. Thiếu úy Thi theo cô em họ tán tỉnh. Tám năm sau Lê Văn Thi gặp Nguyên ở vùng địa đầu giới tuyến. Đại úy Thi, liên đội trưởng từ tiểu khu Quảng Nam bị thuyên chuyển, sau một trận đánh thắng với gần cả trăm chiến lợi phẩm đủ loại. Anh bị mất chức, bất mãn. ( ! ). Về đơn vị mới, làm sĩ quan lang thang. Vợ anh , đã gặp nhiều khó khăn từ tiền bạc đến nơi ăn, chốn ở. Vốn một thời là hoa khôi ở thành phố nầy, lại từng đã là bà nầy, bà nọ , có xe, có lính ( ! ), và cũng quen biết nọ nọ, kia kia. Không chia sẻ những bầm dập của chồng, lại còn tỏ ra không bằng lòng với cuộc sống hiện tại ( ! ), để rồi gia đình nát tan. Thi tình nguyện nhập vào sư đoàn 3 BB mới thành lập. Rồi bỏ chạy vào Mùa Hè Đỏ Lửa. Anh cố hàn gắn lại những đổ vỡ. Nhưng vô vọng. Trong những đắng cay tột cùng, chán nản, anh tìm quên trong men rượu nơi các phòng trà ở Đà Nẵng.
Trước ngày ra trại, Nguyên tìm Thi để chia cho một số đồ dùng và hỏi anh ta nhắn gì về cho “bà xã”, mà Nguyên cũng đã có dịp quen biết.
- Chào bác, chị Hiển có nhà không bác ?
- Chắc chiều hắn mới về.
- Thưa bác, con là bạn Thi, ở trên trại mới về, ghé thăm chị Hiển.
- Mời cháu vào nhà chơi.
- Dạ.
- Dì là mạ thằng Thi, hắn ra răng hở cháu ?
- Thi vẫn khỏe.
- Dì ở ngoài Bắc, vô được mấy hôm, đợi con Hiển xin được giấy phép để cùng đi thăm thằng Thi đó.
- Thấy cháu không ốm mấy, coi bộ còn khỏe&dì mừng !
Bà nhìn quanh một vòng, dù trong nhà vắng vẻ, chỉ có Nguyên và bà. Đến sát Nguyên, thì thầm :
- Có điều cháu rán tìm cách mà đi. Ở đây sống không nỗi &
      Thi mới lên ba thì ba mẹ đã theo chân những cán bộ kháng chiến nòng cốt đi Bắc. Một người mẹ đã bỏ lại con từ những bước đi chập chững. Một người cha bỏ lại đứa con đầu lòng mà đi ; giao cho bà ngoại nuôi nấng, bảo bọc. Có thể nói, cả hai có cùng chung một lý tưởng - không gì lay chuyển nỗi. Sau bao nhiêu năm hy sinh, bao nhiêu năm sống cùng, sống với bác và đảng, bao nhiêu năm thấm nhuần lý tưởng cách mạng. bao nhiêu năm tưởng chừng đã đạt đến đỉnh cao của vinh quang, bước chân trên những con đường say men chiến thắng. Hóa ra bây giờ mới thấy được lối về! Tìm lại đứa con đã bỏ mặc cho Mỹ ngụy, vẫn còn lành lặn thân mình, vẫn không một lời oán hờn cha mẹ. Một người đàn bà Việt nam với nét mặt rạng rỡ khi nhắc đến đứa con dâu chưa một lần cưới hỏi, còn son trẻ, cố gắng chạy chọt để có giấy phép thăm chồng, thăm đứa con mình đã mang nặng, đẻ đau, đã phó mặc cho rủi may, phó mặc cho số phận.
      Sau mười mấy năm tù đày, cũng còn khoảng thời gian để sống tình cảm mẹ con dù đã có quá nhiều mất mát, dù thời gian ngắn ngủi để vun đắp tình mẹ con, đầy tràn sung sướng, tưởng chừng như không bao giờ có được. Tiếc thay lần nầy Thi lại bỏ mẹ mà đi. Đi để tìm lại những gì đã mất, dù phải xa mẹ, dù dòng máu mũ vừa đang mặn nồng, đang trở lại lưu thông thật đều, hòa trong từng huyết quản. Nằm trên giường bệnh, nhớ lại một đời xuôi ngược, nhìn qua nhìn lại, cũng chỉ một mình, một bóng. Những gì đã đi qua đời bà, đi qua đời chồng, đời con, với nhiều khổ đau, với nhiều lận đận như một giấc mộng! Không ngờ là một giấc mộng thật. Bà mẹ Thi đã không ngăn được dòng lệ tuôn trào khi nhìn thấy con, dâu và cháu trở về, từ một nơi thật xa, gặp lại\ nhau những ngày cuối đời.
- Mạ già, mang bệnh, lại còn lú..lẫn... nhưng mạ không quên những lần theo con Hiển đi thăm con.
- Tha lỗi cho mạ nghe con,.. Thi
- o -
Bỏ đi lần nầy có chuẩn bị, biết ngày tháng rõ ràng không như 18 năm trước. Nhưng “một lần đi là một lần ly biệt&” Vui buồn lẫn lộn, buồn ít hơn vui. Bởi thế, Nguyên cố gắng đem cả gia đình về thăm lại quê cha đất tổ bên phá Tam Giang. Nơi mà xưa kia đã dung chứa tổ tiên của một dòng tộc sau khi vua Thiệu Trị băng hà, Hồng Nhậm lên ngôi vua. Nơi mà Nguyên đã trải qua những ngày thơ, thân quen những con đường ngày hai buổi đến trường, có lúc thật yên bình. Ai ngờ cũng tại nơi chôn nhau cắt rốn đó, đã mang cha mình đi, vĩnh viễn, cùng với hai thầy giáo về xem trường, xem lớp, để cùng bị chôn chung ! Nơi phải hòa chung nhịp với cuộc chiến, ngày càng thảm khốc giữa anh em, bên ni ,bên nớ.
- Nghe mấy cháu về, luôn dịp o ghé qua thăm.
- Dạ chào o, o về khi mô ?
- Về chơi mấy ngày rồi.
- Chú có về không ?
- Ông lúc ni hơi yếu nên nhác về thăm. Hơn nữa ông nói mỗi lần về thấy buồn thêm. Bà con làng xóm càng bỏ đi xa. Gần hai mươi năm rồi làng mình vẫn nghèo xơ, nghèo xác !
- Mấy cháu khi mô đi ?
- Dạ còn ba tuần nữa.
- Qua bên có gặp gia đình cháu Thu, cho o gửi lời thăm.
- Hồi ở Kỳ Sơn, mấy lần thấy cháu, mà o không dám hỏi thăm. Sợ người ta phê bình vợ trại trưởng mà liên hệ với tù binh. O thấy có lỗi với ba mẹ cháu.
- Con biết mà. Con vẫn còn nhớ một lần o ra dấu, chỉ cho con có mấy củ khoai “bỏ sót” đằng kia. Tiếc là lấy không được vì có ông cán bộ nào đạp xe ngang qua, ngay lúc đó.
- Chú đó chứ ai.
- Con còn nhớ mà, hồi đó mấy lần con thấy o cũng không dám chào !
      Y Nghệt, cán bộ trung đoàn, vợ ông trưởng trại trạm xá được anh em tù gọi một cách khá thân thiện “bà Đê”, đã theo một nhóm dân tộc Radhê bỏ rừng rú Đắc Lắc xuôi về hướng biển, bà biết tử tế với tù nhân, có lẽ nhờ bản chất chân thật của người thiểu số. Những toán công tác riêng cho gia đình bà luôn luôn được “bồi dưỡng”, cho dù công tù cũng như nước sông. Đặc biệt về cách xưng hô, không như thằng nọ thằng kia, đây cũng là một điều “lạ lùng” ! Cuối năm 1973 Y Buông bị thương nặng trong cuộc hành quân ở Ba Tơ, Quảng Ngãi. Hắn được trực thăng tản thương đưa về quân y viện Duy Tân cùng với những người lính trung đoàn 23 BB. Lần lên thăm người chị, tình cờ hắn nhận ra ông bác sĩ đã tận tình cứu chữa hắn, sau thời gian hồi phục, hắn được chuyển qua bệnh viện Đa Khoa Đà Nẵng. Không ai ngờ hắn là buôn đội trưởng du kích, vì hắn còn quá nhỏ, mới mười lăm, mười sáu. Anh chị hắn đã chăm chú nghe em mình kể lại, nhìn những cảm xúc của đứa em trong từng lời nói &Những nghĩ suy đã thay đổi, đã nảy sinh sự tử tế đối với những người tù, mới có những “mở lòng” để bác sĩ Phạm Văn Lương không còn thấy một thiên đường ở trước mặt, một xã hội chủ nghĩa sắp chờ đón những con người luôn mang nhiệt huyết “cách mạng”, nhất là đối với một số khoa bảng ở miền Nam ! Nhờ thế, bác sĩ Phạm Văn Lương đã tìm được một lối về. Dù đau xót, nhưng rạng rỡ.
- Năm rồi, o chú có về lại Tam Kỳ dự liên hoan ngày thành lập trung đoàn. Cháu có nhớ ông bác sĩ gì đó&sau khi ông tự tử, ông Chiến bị kiểm điểm, bị phục viên. Trở về quê vợ làm ăn. Tội nghiệp cho họ quá ! O thấy bà Nghệt, người dân tộc, một cán bộ nằm vùng lại biết thương tù. Chú đi tập kết ra Bắc, sau Mậu Thân được đưa vào hoạt động ở Quảng Ngãi. O ở vậy buôn bán nuôi con, không có ai quấy rầy, không bị bắt bớ, thằng con đi Chuyên viên không quân, có mấy đứa cháu đi cải tạo& lại không dám tử tế với những người chẳng làm gì hại mình.
- Xấu hổ quá phải không cháu ?
- O không còn găp lại họ ?
      Trên những con đường còn “một khâu rựa”, Nguyên luôn nhìn thấy những bông hoa dại mọc bên đường, thoang thoảng những mùi hương; để tìm quên những tháng ngày khổ nhục, uất hận. Trên những lối về, có những chùm khế ngọt, ai mà không thèm thuồng, ai mà không mơ ước. Nhưng những củ khoai, củ sắn, những miếng bầu, miếng bí,&vẫn còn vang vọng, và cũng có những tổ ong mật đã làm ngủ say bao chú gấu oai hùng, những đàn ruồi chết không kịp ngáp ! Thôi thì đâu cũng có đất, có nước, có khí, có lửa, có cái được, có cái mất. Ở đâu cũng sẽ về. Để mong được bình yên cho những năm tháng còn lại của một kiếp lưu đày.
Có cần đâu một chỗ về !
Mai ta nằm chết ở quê hương người
Chỉ xin để lại nụ cười
Gửi về quê cũ cách mười phương xa
Xác ta vùi dưới cỏ hoa
Làm phân bón đất, chút quà thiên thu.
(Chút Quà Thiên Thu — Thơ Trần Du Miên gửi DTL)

     Nguyễn Văn Thống
    Little Saigon 9 / 2007

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn