BÁNH MÌ VÀ PHỞ

18/03/201412:00 SA(Xem: 37207)
BÁNH MÌ VÀ PHỞ
Bánh mì và Phở

 Bánh mì và phở là hai món ăn truyền thống khoái khẩu của người Việt. Ở hải ngoại, những nơi nào có đông người Việt là hầu như đều có những nhà hàng tiệm bánh bán hai loại thức ăn này. Chỉ riêng tại vùng thủ đô tị nạn của người Việt tại Quận Cam đã có không biết bao nhiêu là các tiệm phở, tiệm bánh mì. Đúng là chúng ta đi mang theo quê hương như cố nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu đã từng đặt tên cho một chương trình phát thanh của ông khi giới thiệu về những món ăn truyền thống của người Việt.
Qủa thật hai món ăn này vừa bình dân lại vừa tiện lợi nên đã theo bước chân người Việt đi đến khắp mọi nơi, từ trong nước ra đến hải ngoại. Nó bình dân vì gía cả của nó cũng nhẹ nhàng (nói theo ngôn ngữ quảng cáo ở vùng Little Saìgon, Quận Cam), vì chỉ với một vài đô (ở trong nước có thể còn ít hơn) người ta đã có một ổ hay khúc bánh mì thịt hoặc một tô phở đủ để lót lòng thay cho một bữa ăn. Đối với người Việt dù cơm là món ăn chủ yếu không thể thiếu trong một bữa ăn, nhưng nếu vì một lý do nào đó không có cơm thì món ăn được thay thế thường là bánh mì hay phở chứ ít khi nào người ta nghĩ đến những thứ khác. Dĩ nhiên đây chỉ là xác xuất tương đối chứ không phải là tuyệt đối, nhất là khi ở hải ngoại người ta có nhiều lựa chọn hơn.
Chính vì bánh mì và phở là hai món ăn dự phòng sau cơm của người Việt nên không ít người Việt đã coi chúng như một biểu tượng của quê hương. Mỗi khi đi xa ra khỏi quê hương không khỏi có đôi lúc thèm nhớ về phở hay bánh mì. Một anh bạn tôi định cư ở miền đất lạnh Na Uy đã làm một bài thơ gởi tặng tôi nói về nỗi nhớ quê hương của anh cũng như của tôi trong đó có câu:
Nhớ quê hương như nhớ phở
Ơi bánh mí Bưu điện Sài Gòn
Những ai từng sống ở Sài Gòn trước năm 1975 hẳn còn nhớ cái ki-ốt bán bánh mì trước Bưu điện Sài Gòn, lâu qúa rồi tôi không còn nhớ nó mang tên gì. Nó là cái ki-ốt nhỏ giống như những cái ki-ốt trên đường Nguyễn Huệ nhưng nhỏ hơn nằm ngay trên lề đường phía trước Bưu điện Sài Gòn, bên hông Nhà Thờ Đức Bà. Có lẽ đó là cái ki-ốt bán bánh mì đầu tiên qui mô nhất tại Sài Gòn và có thể của Việt Nam thời bấy giờ. Khác hẳn với các xe bán bánh mì từ trước đến giờ, cái ki-ốt bán bánh mì này có vẻ văn minh và hiện đại hơn nên đã thu hút khá nhiều khách hàng chiếu cố mỗi ngày. Với những ổ bánh mì con cóc kẹp các loại nhân khác nhau như pa-tê, thịt, chả lụa, xíu mại, hay thịt chà bông, v.v… đã là một món ăn rất tiện lợi cho các công chức, sinh viên, học sinh dùng thay cho bữa ăn trưa hay ăn sáng. Câu thơ của bạn tôi nói trên đã làm cho tôi nhớ đến những buổi trưa tan sở thay vì về nhà đã cùng bạn bè rủ nhau mỗi người một ổ bánh mì Bưu điện Sài Gòn chui vào rạp xi nê vừa ăn vừa coi phim xong lại trở lại sở làm việc, thật là thú vị.
Nhưng Sài Gòn đâu phải chỉ có bánh mì Bưu điện Sài Gòn là đáng nhớ. Còn có nhiều nơi khác cũng bán bánh mì nổi tiếng không kém như tiệm Bánh mì Hà Nội trên đường Nguyễn Thiện Thuật, hay những xe bán bánh mì mang tên Ba Lẹ, Sáu Voi ở Tân Định cũng được nhiều người biết đến. Ở Little Saigon cũng có những tiệm bánh mì mang tên Ba Lẹ, Sáu Voi nhưng không biết chúng có liên hệ họ hàng gì với những người chủ cũ ở Sài Gòn năm xưa hay không, hay đó chỉ là một cách đặt tên để mọi người gợi nhớ về một Sài Gòn xưa cũ.
Nói đến bánh mì mà không nói đến loại bánh mì bít-cốt thì cũng là một điều thiếu sót. Đối với các tù cải tạo trước đây thì bít-cốt là một loại lương khô rất quen thuộc. Đó là một loại bánh mì khô được làm từ bánh mì cũng rất đơn giản. Bánh mì được cắt thành những lát mỏng dầy khoảng 1cm rồi đem nướng hay sấy khô trong lò nướng. Đây là món ăn được những người tù rất ưa chuộng vì chúng giữ được lâu lại không phải nấu nướng hay chế biến gì cả dùng để ăn dặm thêm những lúc đói bụng. Ở tù, dù là tù cải tạo hay tù hình sự thì cũng đều ăn uống thiếu thốn, không những vậy lại còn phải lao động cực nhọc nên lúc nào cũng cảm thấy đói, cho nên một bịch qùa bánh mì bít-cốt thăm nuôi lúc ấy chẳng khác gì cao lương mỹ vị. Nhưng sau này, sau khi được trả tự do, thỉnh thoảng ăn lại những miếng bánh mì bít-cốt sao tôi thấy nó lạt lẽo, khô khốc làm sao chẳng còn hấp dẫn chút nào. Đó là cái cảm giác tự nhiên nó đến chứ chẳng phải chê bai gì nó.
Trở lại câu thơ của bạn tôi, nỗi hoài niệm nhớ về quê hương liên tưởng đến phở và bánh mì Bưu điện Sài Gòn có lẽ chỉ đúng cho bạn tôi và những người sống xa quê hương ở những nơi có ít người Việt như Na Uy hay một vài nơi khác. Ở những nơi đó, người Việt sống rải rác, muốn tìm nơi ăn một tô phở hay mua một ổ bánh mì kẹp thịt không phải là điều dễ dàng. Tuy nhiên, nếu ở Quận Cam, nơi không thiếu tiệm phở và tiệm bánh mì mà nói như thế chắc sẽ có người cho là không thực tế. Cho nên cũng nên thông cảm cho bạn tôi ở một nơi gần như lạnh gía quanh năm mà lại thiếu hàng quán của người Việt thì việc thèm hay nhớ đến tô phở hay một ổ bánh mì cũng là đều dễ hiểu. Nhất là vào những ngày lạnh gía tuyết phủ đầy đường, hẳn là bạn tôi cũng thèm ăn một tô phở cho ấm lòng người xa xứ và vơi đi nỗi nhớ quê hương. Tôi không biết lúc ấy cảm giác của bạn tôi đã như thế nào? Có giống như Nguyễn Tuân đã viết trong một bài tùy bút về Phở mà tôi đã được đọc từ lâu lắm rồi không? Hình như Nguyễn Tuân đã viết đại ý “mùa đông ăn một tô phở giống như nuốt một cái chăn (mền) bông vào bụng”. Riêng tôi thì chưa bao giờ có cái cảm giác đó cả, có lẽ một phần vì chưa sống ở những nơi qúa lạnh, hoặc vì đang sống ở một nơi có qúa nhiều bánh mì và phở nên không có cái cảm giác này. Quận Cam về mùa đông cũng không lạnh lắm so với Na Uy nên dường như chưa ai có cái cảm giác nuốt một cái chăn hay mền vào bụng khi ăn một tô phở.
Ngày nay, kể từ khi có làn sóng người Việt tị nạn định cư trên khắp thế giới, phở đã không còn là món ăn khó kiếm ở hải ngoại. Nhưng cũng giống như người ta phân biệt người Việt trong nước và người Việt hải ngoại, Phở cũng bị phân biệt giữa phở (quốc) nội và phở (hải) ngoại. Vậy giữa hai thứ phở này có gì khác biệt hay tương đồng không? Dĩ nhiên đã là phở thì ở đâu cũng thế, là một loại súp nấu bằng thịt bò rồi chan lên những sợi bánh phở làm bằng bột gạo để trong một cái tô trên có những miếng thịt bò thái mỏng tái hoặc chín bày ở trên cùng với những thứ gia vị hành, ngò, rau thơm, gía, v.v... Nguyên tắc thì như thế nhưng cách thức nấu nướng chế biến có thể gia giảm tùy mỗi người, mỗi nơi mỗi khác, ngon dở khác nhau. Nhiều người từ hải ngoại, phần lớn ở Mỹ, khi trở về Việt Nam đều có nhận xét phở nội không ngon bằng phở ngoại, cả về phẩm và lượng. Tô phở nội nhỏ nên ít thịt ít bánh, ăn một tô thì chưa đủ phê mà kêu ăn thêm thì không tiện. Trái lại, người trong nước khi qua Mỹ ăn phở lại chê phở ngoại kém xa phở nội, nhất là về lượng, nhìn cái tô phở ngoại to lớn bề thế làm họ hết hồn. Chả thế mà có anh cán khi về nước đã bôi bác mô tả cái tô phở ngoại “to đùng như một cái chậu”. Thật ra việc khen chê phở nội hay phở ngoại cũng tủy thuộc vào khẩu vị và thói quen của từng người, cũng giống như người ta vẫn nói “đẹp xấu tùy người đối diện” để nói lên cái cảm quan đầy tính cách chủ quan của con người mà thôi.
Nhưng nói về phở (bò) mà không nói đến phở gà cũng là một bất công. Chúng giống như hai anh em cùng cha khác mẹ, hay cùng mẹ khác cha. Theo nhà văn Vũ Bằng thì phở gà là một biến thể của phở bò. Vào thời mà món phở bò chỉ mới thịnh hành ở Miền Bắc, chưa được phổ thông trên cả nước, có một dạo ở Hà Nội không có thịt bò vào những ngày thứ Sáu và thứ Hai trong tuần. Vào hai ngày đó, người ta đã chế ra món phở gà để tạm thay thế cho món phở bò không có trong ngày. Nhưng rồi không ngờ phở gà cũng đã vươn lên đồng hành với người anh em phở bò, không chỉ trong hai ngày trong tuần mà đã có một đời sống riêng chẳng thua kém người anh cho đến tận ngày nay.
Trước khi kết thúc, xin mách nhỏ với các bạn một câu chuyện vui, như đã nói ở trên, phở (và bánh mì) là những món ăn dự phòng thay cơm nên có người đã tiếu lâm ví cơm là vợ, còn phở là bồ (nhí) nên mới có chuyện kể rằng: “Bồ là Phở, vợ là Cơm. Sáng: chở Cơm đi ăn phở; trưa: mời Phở đi ăn cơm. Chiều: Phở về nhà Phở, Cơm về nhà Cơm. Tối nằm bên Cơm mà vẫn nhớ về Phở.”
Ngoài ra còn có bài ca dao tân thời tranh luận giữa Cơm và Phở mà người viết lượm lặt được trên net, xin ghi lại để tặng các bạn cười vui trong những ngày xuân; thơ rằng:
Cơm khoe tớ nhất trên đời,
Phở rằng tớ cũng tuyệt vời đấy nha.
 Cơm làm từ gạo mà ra,
 Phở cũng từ gạo nhưng mà ngon hơn.
 Cơm nhờ hương gạo mà thơm,
 Phở nhờ nguyên liệu nên thơm đủ mùi.
 Cơm ăn no bụng là thôi,
 Phở ăn no bụng lại đòi ăn thêm.
 Cơm ăn hàng bữa nên quen,
 Phở thì thỉnh thoảng nên thèm đương nhiên.
 Cơm ngon mua chẳng mất tiền,
 Phở thiu cũng vẫn bỏ tiền ra mua.
 Cơm chân chất chẳng dây dưa,
 Phở trang trí đẹp để lừa mắt ai.
 Cơm ngoan chẳng sợ tiếng tai,
 Phở tuy đẹp đẽ nhưng đầy hoài nghi.
 Cơm quen chẳng ngại ngần gì,
 Phở ăn vài bữa tức thì ngán thôi.
 Phụ cơm chớ phụ người ơi,
Cho dù thua phở nhưng thôi ăn đỡ ghiền.

TOÀN NHƯ
(Xuân Nhâm Thìn 2012)



 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn