CHUYỆN MỘT NGƯỜI TÙ

19/03/201412:00 SA(Xem: 33940)
CHUYỆN MỘT NGƯỜI TÙ

CHUYỆN MỘT NGƯỜI TÙ:

 NHỮNG KỶ NIỆM VUI BUỒN

Với Giáo Sư NGUYỄN ĐÌNH HUY

Sơ lược tiểu sử GS Nguyễn Đình Huy:

 Ngày và nơi sinh: 2-1-1932, Hà Nam Ninh, Việt Nam

 Nghề nghiệp: Giáo sư Anh văn

 Hoạt động chính trị:

 - Thành viên sáng lập Đảng Tân Đại Việt

 - Phó Tổng Bí Thư Đảng Tân Đại Việt

 - Phó Tổng Thư Ký Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến

 - Chủ tịch Phong Trào Thống Nhất Dân Tộc và Xây Dựng Dân Chủ

 Quá trình bị giam cầm:

 - Trại Tam Hiệp (thời Đệ nhất cộng hòa)

 - Trại giam Long Thành (1975)

 - Trại giam Thủ Đức (1976)

 - Hỏa Lò, Bắc Việt (1979)

 - Trại giam Hà Tây, Hà Sơn Bình (1979-1982)

 - Trại giam Nam Hà, Hà Nam Ninh (1982-1988)

 - Trại giam Z30D-Hàm Tân (1988-1992)

 - Biệt giam Bến Bạch Đằng, Saigon (1993)

 Ngày từ trần: 30-7-2012

 ***

 “Tao cho mày biết, nghề của tao là nghề buôn vua, bán chúa, và đến giờ phút này, sau nhiều lần vào tù ra khám, tao mới nhận ra rằng, ở một nước nhược tiểu, cái khó của người làm chính trị không phải là nắm được quyền lực, mà là phải biết chính xác nước siêu cường ủng hộ mình muốn cái gì để làm theo ý nó, nhưng phải linh động sao cho quốc gia mình được lợi, hay ít ra cũng không bị thiệt hại gì…”

 Những lời thâm tình này là của GS Nguyễn Đình Huy nói với tôi tại trại giam Nam Hà, lúc VC chuyển tôi về ở cùng buồng với thầy. Tuy tôi không thích và cũng không ưa tìm hiểu về chính trị nhưng tôi hiểu thầy ngụ ý muốn nói với tôi rằng các nước nhược tiểu lúc nào cũng nằm trong quỹ đạo tính toán của siêu cường và người làm chính trị phải dựa theo quỹ đạo đó để linh động điều hành đất nước.

 Thầy nhấn mạnh “NÓ” muốn gì để làm cho đúng, nhưng rốt cuộc, thầy bị vấp về điểm này, vì khi ra tù sau 17 năm thầy vẫn không biết chính xác NÓ muốn gì mà thầy tưởng thầy biết.

 Hậu quả là thầy lại vào tù thêm nhiều năm nữa, và đến ngày thầy vĩnh viễn ra đi chắc thầy vẫn còn đau lòng vì tâm nguyện không thành!

 Trại giam Hà Tây, Hà Sơn Bình

 Trước 1975, tôi không biết thầy Nguyễn Đình Huy là ai, dù nhiệm vụ của đơn vị tôi (F/ĐB Quảng Nam) cũng có trách nhiệm về công tác nội chính. Có lẽ đảng của thầy không hoạt động mạnh ở Quảng Nam và địa phương chỉ là cấp tỉnh nên tôi không thấy tên thầy trong hồ sơ theo dõi.

 Năm 1976, tôi bị VC áp tải ra Bắc, giam tại trại giam Hà Tây thuộc tỉnh Hà Nam Ninh thì khoảng hai năm sau, thầy Huy cũng bị chuyển về trại này. Thời gian đầu, tôi nghĩ thầy cũng thuộc loại đặc biệt nên được đưa về từ Hỏa Lò, nhưng tôi không tìm hiểu về thầy để làm quen vì thầy lớn tuổi hơn tôi và ở tù theo diện đảng phái. Tôi biết thầy có địa vị trong đảng Tân Đại Việt bởi thấy các đảng viên của đảng này đều tỏ vẻ nể trọng thầy.

 Tôi bắt đầu làm quen thầy khi thầy được chuyển từ đội lao động (đội rau xanh) qua tổ phiên dịch để dịch tài liệu của Bộ Nội Vụ từ Anh văn sang Việt ngữ. Thầy vốn là giáo sư Anh văn nên việc dịch thuật rất dễ dàng đối với thầy. Thầy hoàn tất công việc hàng ngày sớm hơn qui định và dùng giờ rảnh đi dạy kèm cho anh em nào muốn học. Lúc này tôi được biên chế vào đội xây dựng (thợ hồ) và ngủ tại buồng 1 của trại. Cùng đội với tôi có anh Võ Quốc Thanh (nguyên chủ tịch Hội Đồng Đô Thành) và anh Phạm Duy Tuệ (nguyên dân biểu Quốc Hội VNCH) học với thầy. Hai anh ngủ này tầng trên, còn tôi thì ở tầng dưới. Tuần nào thầy cũng đến chỗ ngủ của họ để giảng dạy. Muốn leo lên giường trên thầy phải bước lên giường tôi nên tôi và thầy cũng chào hỏi nhau. Thế rồi cứ mỗi tuần, chúng tôi lại gặp mặt và chào hỏi nên lâu ngày thành quen luôn.

 Nằm phía dưới, tôi nghe thầy dạy cho học viên về cấu trúc của mệnh đề theo từng trường hợp mà thầy gọi là syntax. Thầy có trí nhớ rất tốt. Thầy thuộc lòng các syntax từ 1 đến hơn 100 như ta thuộc cửu chương vậy.

 Tôi cũng muốn học nhưng không thích học với thầy vì tôi cần học nghe và nói hơn là nghiên cứu về văn chương Anh. Tuy nhiên tôi đã học được rất nhiều điều ở thầy mà quan trọng nhất là thầy luôn giữ được tư cách con người trong hoàn cảnh cực kỳ thiếu thốn của trại giam cộng sản.

 Thầy bỏ công đi dạy chỉ để giúp bạn bè đồng cảnh ngộ và dùng kiến thức của mình làm phương tiện hòa mình với mọi người xung quanh. Thầy giao tiếp được với mọi giới trong tù, cả gìa lẫn trẻ, cả chánh lẫn tà. Sở dĩ thầy không kỵ loại nào vì thầy biết khai thác sở trường và sở đoản của đối tượng giao tiếp.

 Sau năm 1979, có lẽ VC được Mỹ “deal” về số phận của tù chính trị nên chúng không để chúng tôi chết đói hoặc chết bệnh nữa. Khi tù bị bệnh nặng chúng cho đi bệnh viện và cũng cho thân nhân thăm nuôi hay gởi qùa tiếp tế thức ăn. Tuy nhiên, tùy hoàn cảnh, có người được thăm nuôi, qùa cáp phủ phê (biến thành dân cậu), có người thì ít hoặc không có thì gọi là “xi cà que”. Riêng thầy thuộc loại trung bình, nhưng cách xử sự của thầy khi nhận được qùa khiến tôi khâm phục. Thầy mời các “cậu” để đại khái trả lễ còn đối với các xi cà que thì thầy đãi rất hậu. Một lần có thăm nuôi, thân nhân mang cho cây chả lụa, thầy gọi đám xi cà que tụi tôi tới giường thầy rồi đem cây chả ra cắt cho mỗi người một khoanh thật dầy để ăn tại chỗ với thầy. Sợ chúng tôi ngại không dám ăn (chả lụa đối với tù rất quý hiếm), thầy phán một câu mà bây giờ tôi vẫn còn nhớ: “Không biết dân Nam thế nào, chớ Bắc kỳ bọn tao, không ăn thì thôi, mà ăn chả thì phải cắn ngập răng mới đã.” Trước sự cởi mở của thầy, tụi tôi vừa cười vừa ăn một cách thoải mái món ăn không bao giờ dám nghĩ tới kể từ ngày vào tù cộng sản.

 Trại giam Nam Hà, Hà Nam Ninh

 Năm 1982, toàn bộ tù chính trị tại trại Hà Tây bị chuyển về trại giam Nam Hà. Trại này được xây cất trên vùng núi thuộc tỉnh Hà Nam Ninh. Tù nhân được đưa vào các thung lũng sát với chân núi để lao động. Tù của trại Hà Tây đến cũng được biên chế thành hai đội vào thung canh tác hoa màu. Tuy hơi xa trại, nhưng phạm vi hoạt động là vùng rừng núi nên nếu biết cách, tù nhân cũng mưu sinh được.

 Tổ phiên dịch vẫn tiếp tục công việc dịch thuật. Hầu hết tù nhân trong tổ này đều thích công việc của tổ vì ngồi viết không có gì nặng nhọc mà khỏi phải lao động ngoài trời như các tù nhân khác. Thầy Huy thì ngược lại. Không biết vì lý do gì, thầy lại cố xin ra đội lao động dù tuổi thầy thuộc loại lớn tuổi so với bọn tôi. Nhờ vậy, tôi mới được gần gũi thầy hơn và thấy được tánh tình hiếm có của thầy.

 Tại trại Nam Hà, tuy có hơi bỡ ngỡ trong những ngày đầu nhưng nhờ số tù tới đây từ trước cũng là quân dân cán chính VNCH nên chúng tôi hòa nhập vào sinh hoạt mới rất mau lẹ. Ở đây là vùng núi, xa “mặt trời”, cán bộ Bộ Nội Vụ ít khi quang lâm, nên tù nhân tương đối dễ thở vì các cán bộ VC từ võ trang, quản giáo đến ban giám thị đều dám chấm mút. Là công an coi tù đã thiệt thòi rồi mà lại coi tù trên núi nữa thì qủa là lỗ so với các loại công an khác. Chúng chẳng những mạnh dạn nhận qùa cáp của tù để mắt nhắm mắt mở cho tù làm trái nội quy (đem tiền, thơ vào trại) mà còn mua bán với tù để kiếm lợi. Một thí dụ điển hình là tên Lực, cán bộ trực trại, chuyên xét tù mỗi lần ra vào trại, đã cho vợ nấu rượu tại nhà và viết trước cửa hàng chữ rất to: MUA RƯỢU TẠI ĐÂY VÀO TRẠI KHÔNG BỊ XÉT!

 Lợi dụng điều này, vài anh em có óc kinh doanh (được gọi là “Chành”) đã lo lót để ra nhà dân hay nhờ chính cán bộ VC mua hàng vào trại bán lại lấy lời. Việc này đã giúp tù rất nhiều vì trong tù dù có tiền cũng không có thức ăn hoặc nhu yếu phẩm để mua.

 Khi thầy Huy được đưa qua đội lao động thì đội của tôi đã vào thung canh tác vài tháng rồi. Vì muốn mưu sinh, tôi tình nguyện làm người lấy củi cho đội. Việc làm này không sợ ai tranh giành hay ganh tị vì ít người dám leo núi một mình nhất là ở vùng núi xa lạ. Rừng ở đây cũng có vài thứ tù có thể ăn hoặc uống được như ổi rừng, lá sâm, lá vang, sắn chùa hương, cam thảo,… nhưng quan trọng nhất đối với tôi là chim thú có thể đánh bẫy (gà rừng, bìm bịp, đa đa, kỳ đà, chồn,…) để kiếm thêm chất thịt cho bữa ăn.

 Đội của thầy Huy cách đội của tôi nửa cây số. Mỗi ngày đi, về, tôi đều phải qua vùng đất canh tác của đội thầy. Điều làm tôi ngạc nhiên là, thầy cũng tình nguyện đi lấy củi cho đội của thầy. Tôi có hỏi thì thầy nói, có đi lấy củi cho đội mới lấy được cho mình. Thầy phân tích: “Hiện tại trong tù đã có tiền và mua thực phẩm bên ngoài vào rồi, nhưng nếu không có củi thì lấy gì mà nấu. Mầy cố đem củi về trại càng nhiều càng tốt, không lo đâu.” Về kinh nghiệm, tôi cho thầy biết, quan trọng là làm sao lấy củi cho trại thật nhanh để mình còn dư giờ làm việc của mình. Do đó, điều kiện tiên quyết là phải leo nhanh và dao phải tốt. Chỉ một tuần sau, thầy đã qua mặt tôi về hai điểm này. Vì đội tôi xa trại hơn đội thầy nên hàng ngày khi tôi đến “lán” của đội mình thì tôi đã thấy thầy đã leo đến lưng chừng núi rồi. Còn dao của thầy thì khỏi nói, vừa nặng vừa bén không khác gì dao của dân đi rừng chuyên nghiệp. Về củi có ba loại “ăn tiền” mà tù thích là Bưởi rừng, Ô rô vàng và Ô rô xanh. Các tên này do tôi đặt vì lá của nó giống lá bưởi và lá ô rô ở miền Nam. Có điều buồn cười là nó thành phổ biến luôn. Tất cả tù trại Nam Hà, kể cả tù hình sự, cũng đều gọi tên này, đến nỗi mấy tên võ trang VC cũng gọi theo luôn, có lẽ vì chúng tôi khai thác loại củi này khá lâu (khoảng 5 năm).

 Suốt thời gian này, ngày nào thầy Huy cũng lên núi đốn củi và vác về trại. Phải nói, ở tuổi thầy, không có ai khỏe và dẻo dai bằng thầy. Bó củi của thầy to hơn của tôi nhiều. Nếu nhìn từ xa, chỉ thấy bó củi di chuyển chớ không thầy người thầy đâu cả. Vậy mà tối về thầy không nằm nghỉ, lại lo giảng bài cho anh em. Thầy dạy cho tất cả ai muốn học, kể cả tù hình sự và cán bộ võ trang VC. Tôi có thắc mắc thì thầy nói: “Dạy cho tù hình sự và mấy thằng vũ trang VC không lỗ đâu. Tù hình sự có tìm đến tao để học thì chắc là tù tự giác rồi, khi có việc cần mình có thể nhờ được; còn tụi vũ trang VC dù có cấp bậc thấp, bọn nó cũng có thể hỏi được những tin tức mà tù cần biết trước”. Kết qủa, trà thầy uống là trà móc câu chính gốc miền Bắc, còn thuốc lào thì lúc nào cũng có thuốc ngon dù qùa cáp gia đình đến chậm. Sau này, khi ở chung buồng với thầy, tôi mới thấy công thầy bỏ ra không uổng chút nào. Cách vài ba đêm, gần giờ ngủ, tôi nghe vài tiếng gõ nhẹ bên ngoài vách buồng, rồi có ai đó ném vào chỗ thầy nằm, khi thì trà gói, khi thì thuốc lào.

 Đặc biệt, khi có đổi buồng hay có tù nơi khác chuyển về trại, thầy đều biết trước nhờ tin tức nhận được qua đám học trò “bất đắc dĩ” của thầy.

 Năm 1987, VC giải tán các đội canh tác trong núi, thầy lại được chuyển về tổ dịch thuật, còn các anh em khác thì bị phân bổ vào các đội lao động gần trại. Riêng tôi lúc này cũng khỏi lao động vì thuộc diện “bệnh” nên được VC sắp xếp vào buồng của thầy là buồng các tù nhân không xuất trại lao động hàng ngày.

 Có lẽ vì cùng là dân lao động ngoài trại mới được “biên chế” về buồng nên tôi và thầy thấy thân nhau hơn so với các anh em khác. Tối nào thầy cũng gọi tôi đến chỗ thầy hút thuốc, uống trà và chuyện trò. Thầy kể cho tôi nghe về tình hình chính trị của miền Nam vào thời điểm cuối mùa và đưa đến kết luận mà tôi đã ghi lại ở đầu bài viết này. Thầy có những dự đoán tương lai rất hợp lý. Thầy nói: “Trong tương lai, nước nào giành được biển nhiều, nước đó sẽ làm bá chủ thế giới, vì đất liền bây giờ đã được phân định đâu vào đấy cả rồi; còn biển thì chưa có rõ ràng nhưng chắc chắn nó sẽ là nguồn tài nguyên phong phú cho con người. Việt Nam là nước có bờ biển dài từ Bắc xuống Nam. Tao nghĩ mấy nước siêu cường muốn dòm ngó đến vùng biển Đông Nam Á đều phải có sách lược ngoại giao với VN. Mỹ bỏ VN rồi cũng sẽ trở lại cho mà xem.” Sau này, nghĩ lại những việc thầy làm, tôi mới biết, đối với thầy, những điều thầy nói không phải dự đoán mà là quyết đoán. Thầy đã dặn dò giới trẻ trong tù, nếu có qua Mỹ thì cố gắng kết hợp tuổi trẻ lại chờ ngày trở về xây dựng quê hương.

 Nhận định của thầy qủa không sai. Tàu Cộng đã khoanh cái lưỡi bò tham lam trên vùng biển Đông Nam Á gây tranh chấp với các quốc gia liên hệ và Mỹ cũng đang muốn can thiệp vào. Đúng là Mỹ đã trở lại quan hệ với VN nhưng không có quan tâm gì đến VN Cộng Sản hay VN Tự Do!!!

 Năm 1988, VC cho mời giới truyền thông báo chí đến trại giam Nam Hà chứng kiến lễ trả tự do cho tất cả tù chính trị, nhưng thật ra chúng vẫn tiếp tục giữ lại trên dưới 100 người trong số đó có tôi và thầy Huy.

 Trại giam Z30D, Hàm Tân

 Khoảng một tháng sau lễ trả tự do, số tù bị giữ lại được chuyển vào Nam, giam tại trại giam Z30D, Hàm Tân. Tại đây, VC chia chúng tôi ra làm hai đội, một đội lao động gần trại gồm các SQ cấp tướng và các tù lớn tuổi, đội còn lại hàng ngày phải băng rừng vào rẫy bắp và vườn điều làm cỏ.

Thầy Huy lớn tuổi nên ở đội lao động gần, hàng ngày quét dọn khu vực thăm nuôi. Còn tôi thuộc đội trẻ, lại tiếp tục vào rừng lao động như ở ngoài Bắc.

Vì trại giam ở miền Nam nên tù có thăm nuôi nhiều hơn và cuộc sống tiện nghi hơn nhờ tiếp tế của gia đình. Tuy không được công khai, nhưng tù cũng có thể lén sử dụng lò dầu để hâm đồ ăn hoặc nấu nước uống. Vấn đề kiếm củi không cần thiết nữa.

Việc mưu sinh của tôi không có gì thay đổi vì tôi vẫn lao động trong rừng và thỉnh thoảng tôi vẫn bẫy được chim đa đa hoặc thỏ rừng. Còn chỗ thầy Huy lao động là khu nhà thăm nuôi. Các nhà này nằm cạnh bờ hồ chứa nước cho đập thủy điện. Thầy lại nghĩ đến việc mưu sinh bằng cách câu cá. Thầy biết tôi khi còn ở ngoài Bắc lúc làm với đội rau cũng câu được nhiều cá nên thầy hỏi tôi về kinh nghiệm câu. Tôi cho thầy biết, cá tôi câu là loại cá diếc cần có mồi nhử và phải biết canh phao; còn ở đây, cá lòng tong rất nhiều, chỉ cần tìm lưỡi câu nhỏ và phao nhẹ là có thể câu được dễ dàng. Tôi tưởng thầy hỏi cho qua chuyện, không ngờ thầy làm thiệt và kết qủa rất khả quan. Ngày nào thầy cũng có cá ăn. Thầy lại có biệt tài nấu ăn, nhất là món canh chua và kho tộ nấu bằng cá lòng tong. Không biết lúc đó vì còn trong tù thiếu thốn hay không, mà về sau này, tôi ăn canh chua không thấy chỗ nào ngon bằng của thầy nấu. Tôi nhớ khi được khen, thầy nói: “Có gì khó đâu, chỉ cần nhớ, canh chua không phải chỉ có chua là được, mà phải đủ chua, đủ ngọt và đủ mặn. Vần đề là phải biết thế nào đủ, thế nào không đủ.”

Mới đầu thầy câu để có them thức ăn hàng ngày nhưng dần dần thầy “ghiền” câu luôn, đến nỗi khi được vợ thăm, thầy cũng làm cho bà xã một cần câu và hai người ngồi câu dọc bờ hồ, dù ngày giờ thăm nuôi rất quý đối với người tù dưới chế độ cộng sản.

Năm 1989, khi bắt đầu có đợt HO chuẩn bị đi Mỹ, các tin tức lạc quan đưa vào trại qua than nhân rất nhiều. Có một lần, tại khu thăm nuôi, thầy đã nói: “Tụi mình chắc chắn sẽ qua Mỹ rồi. Nếu không được bốc thẳng thì cũng sẽ đi theo diện HO khi được thả về; nhưng muốn thay đổi vận nước thì phải ở lại hoạt động mới hiệu qủa”. Lúc đó, tôi không nghĩ là thầy có chí lớn nên nghe qua rồi để ngoài tai vì với bao nhiêu năm khổ cực trong tù, không chỉ riêng tôi mà hầu hết những người đồng cảnh ngộ đều mong muốn được đi Mỹ cùng gia đình để tránh họa cộng sản và có cuộc sống tự do hơn, còn chuyện tính toán thêm nữa về đất nước thì chưa nghĩ đến.

Đầu năm 1992, không biết có thỏa hiệp gì với Mỹ không mà VC lần lượt thả hết những người của chế độ cũ bị bắt đi “cải tạo” từ năm 1975, tôi về Biên Hòa còn thầy ở Sài Gòn.

Một lần lên Sàigòn để làm giấy tờ đi Mỹ, tôi nhờ người bạn chở đi thăm thầy thì không có thầy ở nhà. Người hàng xóm chỉ tôi đến tiệm café gần nhà thầy may ra gặp. Khi đến nơi, tôi không gọi thầy mà đứng từ xa quan sát, tôi thấy thầy đi từ bàn này đến bàn khác rỉ tai với mọi người. Tôi nghĩ ngay là thầy đi gặp lại các “đồng chí” của thầy nên tôi bảo người bạn quay xe về vì thực sự lúc đó tôi cũng hơi “lạnh cẳng” sợ việc đi Mỹ của mình gặp trở ngại nếu liên lạc với thầy.

 Lần gặp mặt cuối cùng

 Cuối 1992, Bửu Uy, người bạn tù cùng ăn cơm chung với tôi trong những ngày “cuối mùa” đã xuống tận nhà tôi mời dự tiệc cưới của anh ở Sàigòn. Uy cho biết, người tham dự hầu hết là bạn trong tù nên tôi nhận lời ngay. Tối hôm tiệc cưới, tôi lại may mắn được sắp ngồi chung bàn với thầy Huy.

Sau giây phút ăn uống và chia vui cùng cô dâu, chú rể, thầy ghé vào tai tôi thì thầm: “Mầy qua bên đó rồi cũng sớm về thôi. Tình hình thuận lợi lắm rồi. Có dịp ghé nhà tao, tao cho mày xem tin tức bên kia gởi về.” Nhưng sang hôm sau, tôi về thẳng nhà chớ không ghé thầy để xem. Nghĩ lại tôi không hiểu tại sao mình có thể hời hợt như vậy; có lẽ lúc đó, tôi qúa háo hức chuyện đi Mỹ, nên những chuyện khác tôi không muốn biết tới. Sau này khi đã qua Mỹ, nghe tin thầy và một số người cùng tổ chức bị bắt tại VN, tôi dò hỏi và thu thập những tin đồn về chuyện này mới suy nghiệm ra có lẽ tin tức thầy định cho tôi biết là việc VC hứa với Mỹ chấp thuận đa nguyên và tổ chức của thầy sẽ trở thành đảng đối lập được sự đồng thuận của hai phía, nhưng đến ngày làm lễ ra mắt thì thầy cùng tất cả thành viên của tổ chức bị VC tóm gọn! Tới bây giờ, tôi cũng không biết suy nghiệm này có đúng hay không, nhưng tôi biết chắc không phải thầy hành động liều mạng không cần hậu thuẫn, mà thầy bị té nặng vì thầy không biết chính xác NÓ MUỐN CÁI GÌ !

 Gởi một tấm lòng

 “Thầy đi không có gì đưa tiễn,

Xin gởi theo đây một tấm lòng.”

Thầy Huy không phải là nhân vật nổi tiếng ở miền Nam vì dân Nam ít quan tâm đến hoạt động của các đảng phái chính trị, nhưng người viết muốn ghi lại đôi nét về thầy trên Đặc San PHƯỢNG HOÀNG khi được tin thầy vĩnh viễn ra đi không phải vì liên hệ quen biết cá nhân, mà vì mối cảm xúc về một con người suốt đời phải chịu đựng gian khổ vì lý tưởng chống cộng của mình.

Trong ngày Đại Hội của Tổng Hội CSQG/VNCH tại hải ngoại, Thiếu Tướng Tư Lệnh CSQG đã nói lên tâm sự của mình với ngụ ý vinh danh những chiến hữu CSQG phải trả gía 17 năm tù cho công tác chống lại quân thù cộng sản. Còn cái gía phải trả hơn 20 năm tù của thầy Huy thì sao? – Chỉ là một bản tin ngắn trên báo và những tiếng thở dài thương cảm của bạn bè thân hữu đang sống trong thế giới tự do mà thầy không bao giờ thấy được !!!

Vượt biên, HO hay ODP đều cùng chung mục đích là tìm tự do cho mình và gia đình nơi xứ người; còn cái tự do thầy muốn tìm là ở ngay trên quê hương, không phải cho riêng thầy mà cho cả dân tộc.

Ước mong, sau bài viết này, trong những phút mặc niệm theo nghi lễ tổ chức hội họp của các hội đoàn hải ngoại, hình ảnh của Thầy sẽ hiện hữu trong lòng mọi người.

 Dallas, cuối 2012

 LÂM MINH SƠN

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn