CHẬP CHÙNG TỦI NHỤC

19/03/201412:00 SA(Xem: 34756)
CHẬP CHÙNG TỦI NHỤC
CHẬP CHÙNG TỦI NHỤC
  tka23

 Từ ngày, cái gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa rải xác chết từ Bắc vào Nam, đem khoe cái tiền tích u ám ngất trời, hồn ma bóng quế của cái thời Cải Cách Ruộng Đất, của cái thời Quỳnh Lưu, Nhân Văn Giai Phẩm… của cái thuyết vô nhân không tưởng Chủ Nghĩa Marxist-Leninist dã man, trí trá, nghèo xác nghèo xơ gọi là “Giải Phóng?”.
 Giải phóng, ngày 30 tháng 4 năm 1975 cũng là ngày người dân Nước Việt Nam Cộng Hòa từ Vĩ Tuyến 17 Quảng Trị vào tận Cà Mau, Côn Sơn, Phú Quốc bị “đổi đời” một cách kỳ quái. Người người hoảng loạn, tứ tán. Đời sống văn minh lùi về lạc hậu. Cuộc sống an cư lạc nghiệp hóa ra chết chóc, đói khát, tan nát. Người người đứt cả ruột gan! Đất trời tang thương! Ngày 30 tháng 4 năm 1975 mới là Ngày Giải Phóng cho những kẻ cầm quyền đến ngu dân Miền Bắc khố rách áo ôm, sống đời “đốt đuốc soi rừng” mở mắt mọi rợ choáng ngộp trước ánh sáng phồn hoa thị thành tự do, hạnh phúc…của người Miền Nam.
 Lòng tham lam của họ được giải phóng ra, đi cướp cạn vàng bạc, tiền của, nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, vợ con người ta…
 Cuộc chiến đã đi qua rồi. Kẻ tự xưng người chiến thắng một cách vô ý thức đắc chí, hoang tưởng trở nên kiêu căng, đôc tài, tàn ác. Người bắt bị thua trận buộc phải “quăng súng” bỏ cuộc, tức tưởi, uất hận biết bao giờ nguôi! Rõ ràng ràng, ai thắng ai? Người Miền Nam đòi “Bắc Tiến”, ai cho “tiến Bắc” để thống nhất sơn hà? Cuối cùng, “Người Miền Nam đòi Bắc Tiến” kia bị giết chết đi để dâng không cho bọn đao phủ Bắc Bộ! “Bộ Đội” của cái tên Hồ Chí Minh thắng ai qua hai mươi mốt năm đánh nhau, ngoài phơi xác chết “sinh Bắc tử Nam”?
 Cả một nước Tàu vĩ đại, cả một đế quốc Liên Xô siêu cường, cả một hệ thống Xã Hội Chủ Nghĩa rộng lớn cực đoan cùng toa rập với nhau, tuồn vũ khí giết người đủ loại cho cầm và mớm thức ăn tanh tưởi cho ăn mà ra lệnh cho Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và bè lũ mang huyết thống di truyền nô lệ của giòng họ mình ra hết lòng bành trướng cho được cái chủ thuyết Cộng Sản vô thần.
 Chúng xúm lại đánh một mình Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa nhỏ bé, cô độc, nghèo khó mà còn bị cột tay cột chân đủ bề. Kêu Trời, Trời cũng bó tay. Kêu Phật, Phật cũng bó tay. Kêu Chúa, Chúa cũng bó tay. Nói gì, kêu Người Miền Nam Việt Nam dù kiên cường, dù anh dũng đến chừng nào đi nữa cũng đành mất nước là đương nhiên. Chê trách ai!? Có ông thần nào, có ông thánh nào trên trời rơi xuống, dưới đất chun lên hô phong hoán vũ mà cứu được!?
Ai cứ ra rả “Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng. Vong quốc chi đại phu, bất khả ngôn trí” trong trường hợp nầy là những kẻ không biết gì, thiếu công bằng, không có nhận xét, thô lậu nếu không muốn nói rằng u mê, ngu muội!? Bây giờ, bọn Cộng Sản Việt Nam ở trong nước mới đáng chỉ vào mặt mà chửi “đồ quân bán nước”.
 Ai đời quê hương mình đó mà đem bán đi. Đất nước mình đó để người ta chiếm dần chiếm mòn. Dân mình yêu nước thì cấm, thì bắt bỏ tù, thì đánh đập! Cái nầy mới đáng Trời “tru di cữu tộc” chứ không phải “tam tộc” bọn chúng mới thỏa ý tiền nhân.
 Thời kỳ chiến tranh, “đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào” chỉ là mánh khóe, thủ đoạn họ tuyên truyền không vì tổ quốc, giang sơn Việt Nam mà vì lợi ích cho đàn anh Nga, Tàu mà họ tình nguyện làm tôi mọi, bưng bô cho những “đồng chí vĩ đại” Stalin, Malenkov, Khrushchev, Brezhnev hay Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Lâm Bưu…toàn là thứ Hồng Vệ Binh Tàu, Đế Quốc Ma Quỷ “Evil Empire” Nga.
 Sau 30 tháng 4 năm 1975, dân, cán bộ, đảng viên ngoài Bắc ùn ùn chạy vào Nam hôi của. Đời họ từ sau 1954 cái gì cũng không có. Đời sống quá nghèo đói, nên lòng tham của họ thì vô cùng, đáng sợ. Năm 1976, tôi bị đầy biệt xứ ra ngoài Yên Bái, thấy tận mắt một đất nước sao mà lạc hậu, khốn cùng đến thế! Người người không đủ cái ăn, thiếu thốn cái mặc. Họ cứ đổ thừa rằng “tại chiến tranh”. Vậy thì, từ Sông Bến Hải vào Côn Sơn, Phú Quốc không phải “tại chiến tranh” và “trong lòng chiến tranh” hay sao mà đời sống người ta trong Nam phú quý, sang giàu biết chừng nào? Họ là những con thú hoang đói ăn vào được trong Nam rồi coi như đời được giải phóng, bất cứ thứ gì cũng quý báu vô cùng đối với họ là những con người sống đời tăm tối dưới chế độ bần cùng.
 Họ hiếp đáp người Miền Nam không còn bút mực nào tả cho hết nỗi đoạn trường! Chị Chín gần nhà “nhất định không ra khỏi nhà, các ông có bắn chết thì tôi chết trong nhà tôi”, chị trả lời một cách dứt khoát với một tên đeo lon Trung tá với cả bầy lính tráng súng ống rổn rảng, rộn ràng uy hiếp chị mà chiếm nhà chị. “Giải Phóng, đồ thứ ăn cướp”, người ta thì thầm với nhau.
 Quê tôi, những nhà giàu triệu phú sống nghề làm nước mắm gọi là “hầm hộ” bị tụi nó bỏ tài liệu, vũ khí vào nhà rồi vu oan giá họa “chống phá cách mạng” mà bắt bỏ tù và chiếm đoạt hết gia tài của người ta. Những thương gia lớn nhỏ đều bị “đánh tư sản mại bản” và “đi vùng kinh tế mới” cho cùng kiệt, khốn khổ, chết chóc. Ga xe lửa Mương Mán ngày đêm xình xịch xình xịch chở ra ngoài Bắc cho cái xứ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa , bần cố nông mấy chục năm tháng nầy qua tháng nọ những thứ ăn cướp được của dân trong Nam. Quốc Lộ 1 ngày đêm nườm nượp những Molotova, Jin, các loại “xe hộp”, “ô tô con”, Dodge 4x4, GMC của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa chở đầy báu vật gia bảo của người Miền Nam mới vừa chôm, chỉa được bằng súng đạn đem ra quê quán Thanh, Nghệ, Tĩnh…làm gia tài ba đời vô sản trên răng dưới dái giòng họ của mình.
 “Đánh Tư Sản Mại Bản”, nghe hết hồn. Nhà ông bà già vợ tôi ở Phan Thiết bị hơn hai chục mạng: “quân đội nhân dân” có, “công an nhân dân” có, “quản lý thị trường” có…ăn dầm nằm dề cả hai tháng trời trong nhà. Họ ra lệnh “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Họ khảo “vàng, bạc, tiền của…để đâu?” Họ tịch thu gần như hết đồ đạt trong nhà. Họ đào xới chỗ nầy, bới móc chỗ kia. Họ lặn xuống cái giếng sâu lút đầu người. Họ cào, cuốc trong cả cầu tiêu người ta đi tiêu, đi tiểu . Họ đòi đặp sập cái vách tường coi “hàng chục ký vàng lá dấu ở đâu”.
Một người cần ra khỏi nhà thì bị hạch hỏi, lục lọi khắp châu thân. Nhà có mấy căn thì một căn tịch thu cho cán bộ ở. Một căn bắt phải bán rẻ như cho, “nếu không thì các con chết với quý ông đấy các con ạ”. Một căn lớn hơn thì lấy làm công sở cho Phường. Cho một căn chỉ một mình vợ tôi ở được ở lại. Nhà, tất cả cha, mẹ, anh, chị, em, con, cháu trên 20 người “đi kinh tế mới” hết trơn. Việt Cộng một phần muốn “bần cùng hóa” người dân Nam Việt Nam, một phần tạo lỗ hổng để khuyến khích cho đàn con, đàn cháu mất dạy của Hồ Chí Minh mất nết ngoài Bắc vào Nam ăn cướp.
 Ngày 22 tháng 9 năm 1975, khi tôi đang “học tập cải tạo?” ở Trại An Dưỡng Biên Hòa thì có lệnh đổi tiền. Đổi tiền, nghe thật giản dị và đương nhiên. Giản dị vì đem tiền cũ đổi lấy tiến mới thôi, có gì!? Đương nhiên, vì “giải phóng” rồi thì có Tiền Giải Phóng chớ? Cái ác, cái gian manh, cái trí trá là sự đổi tiền đó được giữ hết sức bí mật tới giờ phút chót và diễn ra chỉ trong vòng một ngày.
 Năm trăm đồng tiền Việt Nam Cộng Hòa chỉ đổi được 1 đồng Ngân Hàng Nhà Nước để xài cho toàn cõi Miền Nam. Người ta có bao nhiêu thì bao, chỉ cho đổi có 200 đồng mà thôi. Còn lại từng đống từng đống tiền thì y như là “thí cô hồn” cho từng đàn, từng đàn quỷ sứ đói ăn ngoài Bắc mới vào Nam. Bọn “cháu ngoan bác Hồ” ôm hết tiền đó của người ta mà “úm ba la” hợp thức hóa ra tiền của mình mà giàu to.
 Rồi lần đổi tiền kế tiếp vào ngày 2 tháng 5 năm 1978, khi tôi còn trong tù ở Trại Trung Ương Số I Lào Cai ngoài Bắc, bọn chúng lại nói là để thống nhất tiền tệ toàn quốc. Một đồng tiền mới nầy tính ngang bằng một đồng tiền cũ như tờ giấy lộn ngoài Bắc và ngang bằng 0,80 đồng tiền ở trong Nam mới đổi ngày 22 tháng 9 năm 1975, cách đó gần 3 năm.
Sau đó vài tháng, tôi nhận được thư vợ, bả viết rằng: “nhờ ơn Cách Mạng, em làm ăn cũng khá giả như chị Hai Hốt xóm mình. Các con của mình có thua gì các con của chỉ đâu!”. Đọc thư, tôi buồn đứt ruột, nát gan. Trời ơi, chị Hai Hốt chỉ nghèo biết chừng nào. Các con của chỉ không có được một cái áo lành lặn, cái quần lành lặn mà mặc. Gia đình nghèo quá sức, tụi nó không có gì để ăn cho có một bữa no bụng! Khoảng bảy năm sau, vào ngày 14 tháng 9 năm 1985, tôi đã ra tù và đang ở Phan Thiết thì được lệnh đổi tiền một lần nữa. Nhà Nước “ăn cướp” thêm của dân ngu khu đen, bắt dân bỏ ra 10 đồng Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam mới đổi năm 1978, đổi lấy 1 đồng Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam bây giờ. Việc đổi tiền là một “âm mưu ăn cướp” được phủ lớp màu lòe bịp là quốc sách của bọn vô thần để vơ vét máu xương đồng bào và cũng là cơ hội cho cha con, cháu, chắt, chít của cái gọi là đảng viên, cán bộ, viên chức ngụy quyền Việt Cộng nghèo đói ba đời ngoài Bắc vào Nam bốc, hốt thêm, làm giàu thêm mà thôi. Bọn man rợ bần cùng, chúng giải phóng ai? Ai cần bọn chúng giải phóng!? Nỗi đau của người mất nước là mất tất cả. Nỗi nhục của kẻ thắng trận là bọn cường khấu giết người, cướp của.
Tôi vào tù ngày 27 tháng 6 năm 1975, khởi đi từ địa điểm trình diện ở Trường Trung Học Pétrus Ký, lần lượt các trại giam Tân Hiệp, An Dưỡng Biên Hòa, Yên Bái, Hoàng Liên Sơn, Lào Cai, Vĩnh Phú, Thanh Hóa, Hàm Tân. Năm đầu ở Biên Hòa, trời lạnh dữ! Trong những căn nhà tôle tiền chế Mỹ làm để lại, ai cũng lạnh mà ngủ không được. Những bữa ăn, ăn cơm “gạo trường sơn” mối mọt, rệu nát không được một chén với canh nước muối nấu vài cọng cải. Trong vòng chưa tới hai tháng, người người “tù cải tạo” đi thục thịch thục thịch không muốn nổi. Ai ai cũng bị thủng, tay chưn mập ra, căng bóng như chừng sắp nứt nẻ.
 Ngày “lao động là vinh quang” phá rừng, cuốc đất đuối sức, hụt hơi. Đêm về, ngồi viết lý lịch trích ngang, tọa đàm, họp tổ, phê bình kiểm điểm, nghe đọc báo “bọn ngụy, dã thú phải được nhốt lại, nhốt thật kỷ, nhốt thật kín, nhốt thật lâu…” Chừng hơn một tháng đã có nhiều anh em chết, bị thương vì mìn, lựu đạn, lao động. Anh Vĩnh Mỹ tức Nhạc sĩ Minh Kỳ mới hôm qua tập bài hát “Bác cùng chúng cháu hành quân” cho các bạn tù đó thì ngày mai đã ra người thiên cổ. Ông bạn Giàu của tôi đó cũng đâu còn đủ 2 chưn như hồi nào Đại Úy Chiến Tranh Chính Trị đi đứng hiên ngang! “Bọn ngụy, dã thú phải được nhốt lại, nhốt thật kỷ, nhốt thật kín, nhốt thật lâu…” một năm sau bị đưa ra ngoài Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa nơi Xã Việt Hồng, Huyện Trấn Yên, Tỉnh Yên Bái.
 Một tên Thiếu Úy cụt tay làm “Cán Bộ Văn hoá” chỉ vào mặt hàng hàng lớp lớp “Sĩ Quan Ngụy” mà rằng: “các anh chẳng là tù binh, chẳng là cải tạo viên. Các anh chính là những tù nhân có tội với đảng, với tổ quốc, với nhân dân. Các anh, các anh chính là những kẻ “Ngụy” ôm chân Đế Quốc Mỹ làm tay sai đem nước đi bán. Tội các anh “trời không dung, đất không tha, người người đều oán hận”.
 Trong tù, nỗi đau thể xác, nỗi đau tinh thần quyện thật là chặt, bện lại với nhau thật là chắc làm ngưòi tù ngất ngư chết dần chết mòn. Ở đây, heo hút tháng ngày với rừng thiêng nước độc, sơn lâm chướng khí, người tù âm âm u u băng rừng, lội suối đốn cây, chặt giang, chặt nứa…làm “láng”, làm nhà; lên đồi trọc nắng thì nắng cháy da thịt và lạnh thì lạnh tới xương tủy mà đào xới đất trồng trà, trồng khoai mì.
 Những bữa ăn, có khi là lưng chừng chén nhỏ “bo bo” còn vỏ cứng; có khi là 2, 3 khúc khoai mì hay vài củ khoai lang; có khi là nửa chén nhỏ xíu “sắn duôi” hay cơm trắng nấu gạo rẻ tiền; có khi là 2 chén cháo lỏng le vì gạo không đủ nấu cơm…Những người tù nhìn nhau chua xót, đau nỗi đau thân tàn lực kiệt và nỗi buồn biết chừng nào cố hương, cha mẹ, vợ con xa lắc xa lơ trong Nam mà không biết ngày nào mình nằm xuống; nỗi nhục từng giờ từng ngày bị sỉ vả nặng lời miệt khinh. Vì không quen rừng rú, thời khí khắc nghiệt, lao động quá sức lại trong đầu đầy cứng những vết thương tinh thần, nhiều anh em đã ngã quỵ giữa đường. Họ nằm xuống mà mắt cứ mở trừng trừng như nuối tiếc, như chờ mong, như trông ngóng một thiêng liêng vô biên, vời vợi nào đó hun hút, hắt hiu…
 Và tôi thấy, những giọt nước mắt vẫn còn đó chưa khô trên đôi mắt chưa nhắm lại của Châu, Đức, Lộc…ngày tôi khiêng xác đi chôn trong rừng rú hoang sơ, cô liêu! Rồi lại một năm nữa của năm 1977, những tên “Bộ Đội” Bắc Việt lùa chúng tôi trở lại sông Hồng, qua Bến Phà Âu Lâu, lên Cổng Trời, qua bên kia Rặng Fansipan đến một nơi hoang sơ hang cùng ngỏ cụt núi với rừng Xã Việt Hồng, Huyện Văn Bàn, Tỉnh Hoàng Liên Sơn. Chúng định dùng tù lưu đầy chúng tôi làm “lực lượng tiền phương” mở đường chiến lược qua Lào. Một vùng rừng gìà nguyên sinh âm u, mịt mùng trùng trùng, đèo heo hút gió làm sao có cái ăn cho người tù cầm hơi! Vài bóng dáng người Tày, Mèo, Mán e dè thấp thoáng ẩn hiện “không được quan hệ”. Khoai mì, bắp, đậu, “bo bo” bữa có bữa không. Rừng là rừng già sâu thẩm, hun hút, âm u, mịt mùng. Đêm nằm nghe rất gần tiếng cọp rống từng hồi, tiếng hưu nai tác liền liền, tiếng của đàn khỉ la hét lao xao một góc trại tù. Có lẻ như vậy chăng mà những tên cai tù bản chất vốn đã thú tánh mới dậy lên đùng đùng tâm địa dã man, gian ác kinh người. Những người bạn tù tôi đó: Võ Văn Sơn, Huỳnh Ngọc Thuận, Dung Judo…bị từng đám lính của bác và đảng đem ra đánh chơi “cho chúng bây biết lính cụ Hồ đánh giặc cũng hay mà đánh tù cũng giỏi”. Anh Huệ, anh Châu…thèm một, hai miếng thịt trâu già mà chết, bây giờ thân xác chắc đã hóa ra cát bụi bón tươi mấy cây sim rừng tím màu tím nhạt nhạt hắt hiu gió thổi hồi các anh nằm xuống!? Chứ nơi đây rừng thiêng nước độc tít trời mù khơi, ai biết các anh nằm đâu mà rước xác về!? Ở đây, ai lại không nhớ những ngày mưa, nắng, nóng, lạnh… vẫn cứ bương vào rừng chặt, khiêng, kéo về những cây vầu to, dài, nặng chình chịch, mệt ngất ngư. Cây Vầu là một loại tre to như bắp vế người ta và dài thì dài nhiều chục thước. Những con ruồi vàng, vàng sáng, bóng loáng, rất đẹp nhưng ác thì quái ác. Nó chích một cái là đau nhảy dựng và để lại vết thẹo là cục máu bầm dưới da. Những lời nói thoảng qua như lời nhắn nhủ thê lương rằng cũng sẽ tới phiên mình bỏ thây nơi đây mà thôi: “thêm một người nữa mới chết tối qua”, “lại thêm một người nữa mới chết tối qua”…của những anh em các trại khác đi ngang qua từng ngày, từng ngày.
Một đêm vào khuya hãi hùng! Ông bạn Hà Tiến Nhất la thất thanh và cả “láng” la thất thanh làm cả trại la thất thanh! Tôi nằm cùng dẫy giường với các anh Nhất, Trâm, Hùng, Hết… cũng la, la to một cách vô tình, truyền khiến, không ý thức. Chắc trong đầu óc chúng tôi kín mít những tin tưởng rằng trước sau gì rồi cũng sẽ bị chôn xác ở đây, nơi tụi nó quyết đưa những thằng tù chúng tôi đến đây là cho vào cõi chết biệt tăm, biệt tích?
 May, không biết tại làm sao, chúng chuyển trại, “cuốn chiếu” về Trại Trung Ương Số 1 Lào Cai. Từ đây, tù tập trung cải mấy thằng tôi trong Đoàn 776 của Bộ Đội Bắc Việt “quản lý” được chuyển giao cho Công An Nhân Dân.
 Tù do Công An Nhân Dân giam giữ có nhà tù. Tù do Quân Đội Nhân Dân cai trị là những láng trại giữa rừng. Tù do bộ phận nào của cái gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng mang chất dã man, bạo tàn, ác độc như nhau hết thảy. Ở đâu cũng vậy thôi. Trại Trung Ương Số 1 Lào Cai đêm dài bụng đói quá đói không ngủ được, tai nghe tiếng còi xe lửa Phố Lưu hú từng hồi dài mà não nuột cả lòng. Ông bạn Hùng - Hùng Già - , một Đại Úy Lực Lượng Đặc Biệt đói quá, lạnh quá, làm việc nhiều quá chết ngay hiện trường lao động trong một ngày Đông, đào ao nuôi cá trắm cỏ. Đời tù đã sức cùng lực kiệt, mòn mỏi…trong lòng dậy lên ao ước “phải chi lính Mao Trạch Đông sát biên giới đây đến giải phóng”. Tốt hay xấu không biết? Có điều, ra khỏi nơi đây chốn địa ngục trần gian vẫn hơn, ai ai cũng nghĩ như vậy. Không trách, trong cùng cực nỗi đau chết người và mạng sống le lói như ngọn đèn trước gió, con người phải tìm cách thoát ly. Bạn bè tôi cũng vì tìm cách thoát ly mà mang tội “trốn trại” phải chết một cách oan khiên. Những tràng đạn bắn tới bắn lui cho nát thây. Những báng súng đánh đập không ngừng cho bầm dập cơ thể. Những tru tréo lời chữi rủa ma quái cõi âm ty địa ngục… “Ai nói chết là hết. Đồ ngu”, những người tù “học tập cải tạo” đều nói với nhau một lời như vậy mãi mãi nói với nhau một lời như vậy. Không thấy sao, chết rồi tụi nó cũng bắn, “bắn cho nát thây”. Chết rồi, tụi nó cứ dộng báng súng, cứ quăng gạch đá và cứ đánh gậy gộc và cứ chữi rủa một cách man rợ!? Cuối tháng 1 năm 1979, chúng di chuyển tù chúng tôi về phân trại K5 Tân Lập, Tỉnh Vĩnh Phú do Thiếu Tá Nguyễn Thùy làm Trại Trưởng. Ở đây, tôi trong “đội bệnh hoạn” phải chứng kiến vài ngày một người bạn tù chết. Các anh Vân, Phước, Thạc, Khánh, Minh, Hùng, … chết vì khô héo, kiệt sức bên trái tôi, bên phải tôi đang nằm. Họ chỉ còn một chút sức cùng, lực kiệt trối trăn “con chết ba mẹ ơi”, “anh chết em ơi”, “cha chết các con ơi”. Sát bên vách, ban văn nghệ nhà tù là những cựu Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Cựu Sĩ Quan Cảnh Sát Quốc Gia đang xập xình đàn hát những bài hát “như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. “Bác cùng chúng cháu hành quân”. “tiếng chày trên sóc Bom Bo” vô tình, vô tư một cách thoải mái! Ông bạn Sơn, Võ Văn Sơn đã cõng tôi đi tới đi lui khám bệnh “giả” để “chay lười lao động” dưới Trạm Xá của Hiệp Đại Úy, Hường Campuchia. Võ Văn Sơn, Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Quận Hoài Nhơn ngoài Bình Định không chết vì bị “bề hội đồng” của mấy tặc con “bộ đội” ở Văn Bàn mà nghe nói đã chết ở Texas mới đây. Sơn, thôi gì cũng một đời.
 Tiếc là chúng ta chưa gặp lại ôm nhau mà khóc. Khóc mầy đói quá mà ngồi tróc vỏ lúa ăn mấy hột gạo bên trong không được là bao. Khóc mầy đói quá, ngâm muối những vỏ khoai mì ăn, mấy lần tưởng chết là chắc. Khóc mầy chỉ tay vào mặt những anh em ta trong ban văn nghệ mà chữi: “thứ tụi mầy, mấy thằng mang tiếng sĩ quan, thứ sỉ quan không có liêm sỉ, cúi đầu xin làm văn công cho giặc”…
 Tháng 2 năm 1979, đàn anh Trung cộng cho đứa em nhỏ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam một bài học. Những người tù được cán bộ trại “nhồi sọ” bắt chữi độc, chữi không biết mắc cở, chữi không biết mệt, chữi ra rả suốt ngày nầy qua ngày khác cái bọn bành trướng Bắc Kinh, cái bọn Đại Hán, cái bọn Thiên Triều.. . Nếu trể một tháng nữa thôi, bọn tù chúng tôi có thể là lao công, là tù binh, là Việt Kiều trên đất nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc mà cũng có thể đã bị chết thiêu giữa hai lằn đạn đều là kẻ thù không đội trời chung của Việt Nam Cộng Hòa ở Lào Cai rồi.
 Hơn một năm ở đây K5, một số chúng tôi được “biên chế” qua K1, cũng trong hệ thống Trại Tù Tân Lập. K1, lao động chính là tưới trà, cuốc đất trồng khoai lang, khoai mì, bí đỏ…Một ngày mùa Hè nóng thật là nóng của miền Bắc cá chết dưới ruộng, trên sông, những người tù hùng hục làm đường ra Bến Ngọc, Ấm Thượng, Vài người đã ra người thiên cổ: bác Ngọc, anh Ngọc, anh Dũng, anh Minh…Anh Minh, nghe nói là Thiếu tá lái máy bay trực thăng cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu? Anh Ngọc “mơ có một bữa ăn no chết cũng đành” bữa nay nằm xuống thì ngày mai có cả mẹ, cả vợ, cả hai đứa con ở Sài Gòn ra thăm, đem theo nhiều “quà thăm nuôi”! K1, tôi trong “Đội Chè” với toàn các tiền bối Trung Tá và lóc chóc mấy đứa nhỏ Đại Úy chúng tôi là tôi, là Bùi Hữu Bằng - em Chuẩn Tướng Bùi Dinh - , là Nguyễn Minh Chánh - Đơn Vị101 -. Đội Chè chuyên gánh nước tưới đồi trà, làm cỏ mấy gốc trà và hái lá trà non.
 Đội nằm “xà lim”, tiếng Pháp gọi là cellule đầu của dãy đầu tiên bên phải của trại, sát “nhà bếp tù”. Ở đây, còn lại hai người trong ký ức tôi đến ngày hôm nay còn nhớ. Một là, một ngưòi trọng tuổi, cao, ốm, thong dong, hiền hòa anh em nói là Trung Tá, Phó Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo, Thượng Tọa Thích Thanh Long. Hai là, một người ngang tuổi tôi, thường dựa tường, cô đơn, ít chuyện trò, mắt buồn hiu hắt, bạn bè nói là Phan Tấn Ngưu, Thiếu Tá Trưởng F. Đặc Biệt, “anh ta buồn vì vợ cũng ở tù”. Tháng 12 năm 1980, chúng tôi bị lùa vào Thanh Hóa ở Thanh Phong thuộc Huyện Nông Cống, rồi Thanh Lâm thuộc Huyện Như Xuân ở với núi đá vôi, rừng gổ lim, người Thái Trắng, người Thái Đen…
 Người ta đưa ông Trung Tướng Có, ông Đại Tá Khải…làm Ban Giám Đốc và chúng tôi làm “công nhân tù” cho một kế hoạch đồn điền trà như thể Đồn Điền Cao Su Đất Đỏ “Plantation Terre Rouge” thời Pháp thuộc trong Nam. Nơi nầy, tù Z chúng tôi là loại tù chính trị, tù binh, tù “học tập cải tạo” còn có tù hình sự và tù Biệt Kích.
 Tù hình sự là những người đủ lứa tuổi bị chế độ kết tội hình mà chịu tù một cách thảm thương như đang chịu hình dưới âm ty địa ngục chuyển kiếp ngạ quỷ, súc sanh trên dương gian, trần thế.
 Tù Biệt Kích là những người lính biệt kích của Việt Nam Cộng Hòa và của Trung Hoa Dân Quốc sống ở đây cũng được chục năm rồi. Tôi nhớ, Đại Úy Tôn Thất Lảnh, một người tù Z đẹp trai, thông minh, linh hoạt, hòa nhả…cứ mỗi lần tắm suối là mon men theo mấy anh tù Biệt Kích Trung Hoa Dân Quốc của Đài Loan mà học tiếng Quan Thoại. Không lâu, anh ta đã nói chuyện được với mấy anh chàng Biệt Kích Đài Loan nầy một cách trơn tru, lưu loát. Cuối tháng 4 năm 1982, tụi nó chuyển chúng tôi về K2 thuộc Trại Z30C Hàm Tân. Hàm Tân ngày xưa thuộc Tỉnh Bình Tuy sau nhập với Bình Thuận thành Thuận Hải. Hàm Tân sát quê tôi Phan Thiết có Khu Rừng Lá mà những năm chiến tranh là ổ phục kích, đắp mô, chôn mìn, chận xe đò thu thuế của Việt Cộng giả dạng là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Những lần chun vô rừng chặt lá buông, nhìn ngọn Núi Mây Tào lòng không khỏi lao xao nỗi buồn thênh thang, mênh mông! Những đụn cát khô khan, những con dông rượt nhau giữa trưa, những cụm mây bạc bay trên trời cao xanh biếc…như thể Phan Thiết tôi đây. “Ôi! Phan Thiết là Phan Thiết”, tôi nói ra nho nhỏ lời than của Hàn Mặc Tử khóc Mộng Cầm và.. và mắt tôi có khi cũng chảy những giọt nước mắt buồn hết sức! Khóc nỗi nhớ thương cha mẹ, vợ con, anh em đang sống ra sao, chắc khổ biết chừng nào không xa nơi nầy bao nhiêu. Tôi trong Đội Nông Nghiệp chuyên trồng mía, khoai mì, đậu phọng, lúa nương…kết quả không đáng kể nhưng thành công là hành hạ được tụi “tù cải tạo” cải tạo hoài cải tạo mãi “tụi nó phản động cứ là phản động, không bao giờ tin Cách Mạng”. Dẫu sao, K2 của Z30C Hàm Tân cũng không đọa đầy, rách nát “khố rách áo ôm” như thời “cải tạo” trên Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa nơi Yên Bái, Hoàng Liên Sơn, Lào Cai, Vĩnh Phú, Thanh Hóa. Nghĩ lại tôi nghiệp cho những người mang tội hình sự ở những nơi đó. Thiếu gì họ là những người vô tội ở cái xã hội mà Công An, Bộ Đội, Nhà Cầm Quyền muốn bắt ai là bắt, bỏ tù ai là bỏ tù. Một khi đã vào vòng lao lý rồi, họ bị đối xử một cách dã man không bằng một con vật. Ngoài Thanh Lâm, tù hình sự nhốt cách chúng tôi một hàng rào kẽm gai cao. Những tên đội trưởng, tổ trưởng là những hung thần “đầu gấu”, “đại bàng” được trao quyền sinh sát.
 Tụi nó thường cho phạm nhân nầy ăn và bỏ đói phạm nhân kia cho đến chết. Tụi nó tùy tiện hành hạ gọi là “trị” phạm nhân bằng búa sắt đánh vào khuỷu chân, mắt cá, cùi chỏ…và dây kẽm gai quất cho rách nát da thịt những người bạn tù cũng tù như mình. Ngoài “hiện trường lao động”, bọn Công An được “tù cải tạo” đặt cho một cái tên là Bò Vàng xuất thân từ giòng giống tá điền phản trắc, “đấu tố” địa chủ một cách ác nhân, độc địa thời cải cách ruộng đất di truyền cho, nên vốn đã thụ hưởng máu không có tính người lại được nhồi sọ dưới chế độ Cộng Sản cuồng tín, chúng trở thành yêu tinh, quỷ sứ của loài ma quái. Năm, ba thằng tụm lại bắt họ đứng yên mà lấy đá, lấy gạch, lấy cây gổ... quăng cho bầm tím cả thịt da hay máu chảy từng giọt, từng giọt rồi rủ nhau cười ngặt ngoẽo. Hết thằng nầy rồi tới thằng kia thay nhau dùng báng súng đánh, nện vào thân xác chết đói gầy gò của họ, bắt họ “cấm la”, có khi lắp cả lưỡi lê vào mà lụi đại, bất kể trúng đâu đâu “cho lũ mầy chết đi”. Người ta đang dang nắng Gió Lào nóng cháy da thịt mà “lao động là vinh quang” cứ “đưa ông cây lửa châm thuốc”. Châm thuốc rồi, dí đầu cây củi đang cháy vào nách, vào bụng, vào đùi người ta “cho biết tay Công An Nhân Dân”. Con người, không đâu xa, Con Người Xã Hội Chủ Nghĩa không bao giờ và không đời nào ai nói là văn minh đưọc. Có văn minh là văn minh cái bản chất không còn tính người… đối với người thì có.
Vào K2, Z30C Hàm Tân trong Nam, ngồi tính ra ,đi tù cũng trên 5 năm mình nghĩ mình u mê, đã chun vào “học tập cải tạo”. Nhưng suy đi tính lại, không chun vào “học tập cải tạo” thì chun vào đâu lúc bấy giờ? Nghe phong phanh không căn cứ rằng anh em Việt Nam Cộng Hòa của mình lập chiến khu chỗ nầy, mật khu chỗ kia nhưng chẳng manh mối đâu với đâu. Bấy giờ, mình chông chênh quá tình trạng “Ngụy Quân”, “Ngụy Quyền” như Thúy Kiều “nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn. Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay?” Lao lý, ai cũng phải nghĩ tới khổ ải, đọa đày, nhưng mấy ai nghĩ tới khổ ải, đọa đày của “Bọn Mỹ Ngụy” dưới gông cùm cực kỳ khắc nghiệt, dã man của bọn thú rừng man rợ mang tên Cách Mạng, Giải Phóng! Vì thế giới nhìn trừng trừng, nhìn chăm chăm sự thể “tắm máu” diễn ra, bọn trí trá Việt Cộng không thể giết cho chết hết như Tố Hữu “giết, giết nữa bàn tay không phút nghĩ. Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong…” Chúng cho ăn đói, bắt làm việc nặng, chữi bới nhục mạ…“cho chúng nó chết dần chết mòn”.
 Và, bạn bè tôi từng ngày từng ngày càng đông rủ nhau về bên kia thế giới không kịp lời từ giả thân nhân. Họ chết ngay những ngày tháng đầu vô Biên Hòa và rải xác từng nơi bước chân tôi đi khắp vùng núi rừng Việt Bắc, Thanh Hóa và đến bây giờ ở Hàm Tân! Chưa nói, những anh em bị lôi ra bắn bất kỳ lúc nào vì tội nầy, tội kia gán cho. Tôi cũng đã bị hụt hơi rất nhiều lần tưởng đã về với ông bà ông vải những năm ở Yên Bái, Hoàng Liên Sơn, Lào Cai, Vĩnh Phú, Thanh Hóa. Bọn đầu sỏ Bộ Chính Trị vốn đánh hơi giỏi hơn chó, biết đang bị thế giới văn minh lên án nên mượn tay thân nhân người tù nuôi người tù sống năm nầy qua năm kia lại còn làm ra của cải, đâu tốn một đồng xu.
 Từ năm 1979 trở về sau, cha mẹ, vợ con, bà con lối xóm, thân thích, người tình, bè bạn…lặn lội thăm “Tù Cải Tạo” ở bất cứ nơi nào đèo heo hút gió, rừng thiêng nước độc, sơn lâm chướng khí. Anh em tù chúng tôi nhờ đó khá ra. Khá ăn, khá mặc, khá tốt tướng trở lại. Trong tù không còn tranh nhau cái ăn từng ly từng tý. Bấy giờ có ai trách ai sự sống là lằn ranh giữa cái bao tử trống trơn chờ chết và cái bụng còn lỏng bỏng ít thức ăn cầm hơi sống!? Lúc nầy, trong các trại tủ “học tập cải tạo” hay “trại tập trung cải tạo” đẻ ra hai lớp người.
 Một là, Nhà giàu, những người được “thăm nuôi” đều đều, dài dài. Một là, Nhà nghèo “con bà sơ” chưa từng nghe đọc tên ai là người “thăm nuôi” mình. Và nhà nghèo làm công cho nhà giàu là tự nhiên trong một tập thể người sống với người dù đang trong tù. Khi ở Thanh Lâm, Huyện Như Xuân, Tỉnh Thanh Hóa, tôi “con bà sơ” vì vợ đi lấy chồng khác.
 May về Hàm Tân gần nhà Phan Thiết, bà vợ tôi bây giờ nuôi ăn hằng tháng nên cũng “đủ ăn, đủ mặc” với người ta. “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay” nỗi đớn đau biết chừng nào người tù không có ai “thăm nuôi”! Đói! Buồn! Tủi! Và người đời là những bạn tù xung quanh cũng coi thường! Tôi nhớ anh bạn Thiếu Tá Quận Trưởng Quận Đức Tu họ Bùi tình nguyện mỗi sáng đi gánh cứt để được ở nhà thong dong hơn. Cũng khó quên, cô cán bộ Công An Nhân Dân đeo nhiều ngôi sao lụi của Trại “xi” cho con ĩa, xong kêu chó lại cho nó ăn và đưa đít thằng nhỏ cho nó lím sạch cứt.
 Ngày 24 tháng 4 năm 1984, tôi được thả ra với “Giấy Ra Trại” do Đại Úy Trịnh Đức Tý ký. Không ai “Tù Cải Tạo” chúng tôi được “lệnh tha” mà không bị cầm chưn ở lại “làm công quả” cho trại mười ngày, nửa tháng. Đau cho người bạn tôi, Đại Úy Lê Thành Nhiên bị bắt ở lại trại “làm công quả” mà phải chôn xác nơi Trại Tù Thanh Lâm heo hút, hắt hiu. Một sáng, lẻ ra được trả tự do như anh em mà về quê Bến Tre trong Nam, anh đã nằm chết im lìm trên chiếc võng, mặt buồn thiệt là buồn và mắt chưa kịp nhắm…Tôi một tay cầm tay Nhiên, một tay vuốt mặt Nhiên nói nhỏ “thác là thể phách, còn là tinh anh. Thôi, mày về lại cố hương, về lại gia đình”. Tôi vừa bước ra sân tập họp “đi lao động” vừa nghĩ đến Nhiên đêm 30 Tết, đầu năm 1981 ở Trại Thanh Phong. Nhiên hát Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa, hát “Nhạc Vàng” của Miền Nam Việt Nam từ chiều cho đến sáng hôm sau một cách say sưa, nhiệt tình, “ồn ào” hơn ai hết. Những người tù “láng” tôi từ K1 Tân Lập Vĩnh phú mới chuyển tới, được một đêm hát ca thả giàn rồi ngày mai khàn cổ không ai nói ra được một tiếng nào và rủ nhau lên “làm việc” với Ban Trật Tự, Ban Giáo Dục và Trại Trưởng, Đại Úy Trương Bảy.
 Tôi về Sài Gòn trên chiếc xe đò cũ kỷ chạy ì ạch bằng than củi, người ngồi chật cứng và đồ đạt đủ thứ chất đầy. Đồng quê vắng tanh! Phố phường nghèo nàn! Bị “quản chế” một năm, hằng tuần phải trình diện và báo cáo nơi Phường 3, Quận 10 và Công An Khu Vực ở sát bên nhà cứ dòm dòm ngó ngó. Tôi chỉ quanh quẩn rộng lắm cũng trong Thành Phố Hồ Chí Minh mới cướp danh từ Thủ Đô Sài Gòn của Việt Nam Cộng Hòa, của Đồng Bào Miền Nam Việt Nam. Mọi thứ đều đổi thay một cách khắc nghiệt, khô cằn, héo mòn, rách tươm. Xã hội được định phần thụ hưởng theo “chế độ”, theo “tem phiếu”, theo “phân phối”, theo kinh tế “quốc doanh” theo Xã Hội Chủ Nghĩa…đất nước tàn mạt. Một đám cưới phải có giấy chứng nhận của Ủy Ban Nhân Dân Phường mới mua được 1 lít nước mắm loại thường, 2 kí lô thịt theo heo ba rọi , 1 cây thuốc Mai xé banh, nửa kí lô đường cát vàng…và thêm nữa, có thể mua được 1 cái mùng vải thô nhỏ cho hai vợ chồng mới cưới. Nhưng cái việc nầy không phải “tiêu chuẩn” ai cũng có và ở đâu cũng như nhau.
 Trong xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa thời bấy giờ, “lệ làng” hơn “phép vua” thì đừng nói công bằng, lẻ phải. Bạn bè tôi, những Người Tù Học Tập Cải Tạo ra trại, tay trắng biết làm gì và ai cho làm gì!? Họ bán giấy số, khuân vác, bán cà rem, bán kẹo kéo, thổi bong bóng, làm mướn, đánh xe bò, đạp xích lô, đi kinh tế mới, mánh mung lặt vặt… mà yên phận hẩm hiu qua ngày. Ông bạn Đại Đội Trưỏng Chiến Tranh Chính Trị của Tiểu Khu Bình Thuận, Đại Úy Vĩnh Vu buồn biết chừng nào mà than thở rằng: “mấy đứa con bị đuổi học hết trơn”. Tôi biết, sấp nhỏ con ảnh học giỏi lắm, giỏi lắm như con cái của bạn bè tôi, nhưng “cha các trò là Ngụy Quân, Ngụy Quyền” đành nghỉ học mà khóc lóc ngày nầy qua ngày khác. Những anh em chúng tôi ngày xưa cùng học Trường Phan Bội Châu hay các Trường Tiến Đức, Bồ Đề, Chính Tâm ở Phan Thiết đi lính lên lon Trung Úy, Đại Úy, Thiếu Tá…phải còng lưng làm công nhân Sở Muối, lương phạn không đáng kể, cực thì hết sức cực mà phải năn nỉ, xin xỏ vào “để tụi nó bớt dòm ngó”. Người bạn Nguyễn Ngọc Nhã ( ? ), Đại Uý Trưởng Phòng 2 Tiểu Khu Phú Bổn vợ bỏ sớm, về Kim Ngọc lấy vợ mới. Hai vợ chồng làm nghề “lái heo” Long Khánh ra Phan Thiết. Chẳng hơn hai năm, “nó chết vì bệnh lao”. Tôi, Nhã rất thân nhau ở trại tù Lào Cai. Thân nhau vì người cùng cùng quê mà cũng thân nhau vì “ghét Việt Cộng, ghét cay ghét đắng”, nó thường nói như vậy. Hai ông Đại Úy Nguyễn Văn Trắng và Dư Ngọc Huân cùng học Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia và Thủ Đức với tôi ngày ngày còng lưng kiếm ăn bằng hai chưn đạp xích lô khắp phố khắp phường Sài Gòn. Tôi, vợ bỏ ra một ít vốn xoay sở làm ăn. Nói làm ăn cho có vẻ “ngon cơm” một chút, thật ra, cha con một nhà hùa vào nhau chịu khó chịu khổ làm các loại nhang bỏ mối Chợ Phan Thiết mà thôi!? “Ngon Cơm” là tiếng nói dễ nhớ, khó quên thường nơi cửa miệng của anh bạn Thiếu Tá Bùi Văn Lớn tù cùng “láng”, cùng trại từ Thanh Lâm ngoài Thanh Hóa vào Z.30C Hàm Tân trong Nam.
 Kế Ngả Tư Lê Văn Duyệt và Phan Đình Phùng, nơi Thượng Toạ Thích Quảng Đức tự thiêu thuở nào, anh bạn Đại Úy Trịnh Truyện Kiều, Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Quận Đức Lập hồi đó cũng bị người vợ sợ làm hôn thê một người Lính Ngụy còn gì nữa đâu, bây giờ kê một cái bàn xập xịu, ngồi bán mấy tấm giấy số, đếm tiền Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam in hình quỷ sứ Hồ Chí Minh. “Tang điền, thương hải” đổi đời một cách éo le, cay nghiệt, chua xót…Nhờ những năm tháng huấn nhục nơi quân trường; nhờ thời gian đời lính cơ cầu đánh giặc; nhờ cuộc sống đối diện từng ngày với kẻ thù…họ quen “mưu sinh thoát hiểm” mà lạng, mà lách mới sống được đến ngày hôm nay. Trong trại tù từ Nam ra Bắc và từ Bắc vào Nam, xét cho cùng, những anh em công chức, đảng phái, dân sự…dễ “bứt”, dễ “đứt” hơn những anh em Quân Nhân, Cảnh Sát Quốc Gia, Xây Dựng Nông Thôn.
 Có người nói người thành thị nầy sang giàu hơn, sung sướng hơn dân nhà quê kia nghèo đói, lầm than. Tôi dám đoan quyết rằng, đó chỉ là một ý nghĩ phiến diện, trừu tượng, chung chung. Bởi vì, trong “người thành thị nầy sang giàu hơn, sung sướng hơn” cũng có những người nghèo không có đủ miếng cơm, manh áo. Trong “dân nhà quê kia nghèo đói, lầm than” thiếu gì kẻ giàu nứt vách đổ tường. Nhưng có ai bảo rằng, vào cái thời Cộng Sản Bắc Việt chiếm Miền Nam Việt Nam thì hết thảy những người mang tên “Ngụy Quân”, “Ngụy Quyền” đều sống đời sống vô cùng khổ, vô cùng nhục, sống như chết đi rồi…như nhau, tôi cho là “y chang”, chí lý, trăm phần trăm không sai, không có biệt lệ. Tất cả họ, không chừa một ai, hoặc bị thủ tiêu một cách bí mật hay công khai; hoặc bị bắt đi tù khổ sai “học tập cải tạo”; hoặc nhà của họ đó, bị đuổi ra và bị lấy mất; hoặc họ phải dắt dìu vợ con đi vùng kinh tế mới heo hút nơi rừng sâu núi thẳm. Họ bị “quản chế”, bị theo dõi, bị áp bức và bị không cho có công ăn việc làm. Họ sống như bóng ma trơi trên chính quê hương mình. Họ muốn chết đi rồi mà không chết đi được. Tưởng chết là hết! Tưởng chết là dễ! Nếu là hết, là dễ thì những anh em bạn của tôi và chính tôi đây đã không còn trên trần đời ô trược nầy nữa từ lâu thiệt là lâu lắm rồi.
 Ngồi đây nghĩ lại những năm dài đi qua trong đời, dẫu gì, mình vẫn thấy mình còn ân phước bề trên ban cho mới còn sống và sống bình yên đến ngày hôm nay nơi nầy. Ngồi đây viết lại những vụn vặt kỷ niệm mà không khỏi bùi ngùi, cảm hoài thế sự đã chun vào quá khứ. Quá khứ có chôn vùi nhưng không khuất tất hết tất cả ký ức một thời đáng nhớ, không nói tới đáng thương hay đáng ghét.
 Có những cái còn lại là nỗi buồn mất mát thời học sinh quần xanh áo trắng; những mối tình học trò thoáng qua, đi mất. Cũng có những cái còn lại là nỗi đau trăm năm đời người sống đời tục lụy mà “nước mắt chúng sinh trong ba ngàn thế giới dồn lại còn hơn nước trong bốn bể” như lời Phật dạy. Con người, người ta tin là “có số” và nương theo “số” mà sống dù chập chùng tủi nhục. Tôi không tin. Tôi cứ lầm lủi sống, sống phấn đấu, sống không an phận thủ thường. Và tôi nghĩ, những anh em bạn bè tôi là những người bạn học, những chiến hữu, những bạn “Tù Học Tập Cải Tạo” cũng nghĩ như vậy. Sống là chiến đấu. Nếu không, mà ủy mị chờ thời, đợi số thì đã gục chết trong tù giam tận cùng dã man của bọn Cộng Sản Việt Nam ở những nơi nầy, nơi kia Bắc, Trung, Nam hết trơn rồi./.

NGUYỄN THỪA BÌNH
 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn