GIỮ TRỌN TÌNH QUÊ

19/03/201412:00 SA(Xem: 38860)
GIỮ TRỌN TÌNH QUÊ
GIỮ TRỌN TÌNH QUÊ

 -"Nơi chôn nhau cắt rún của tôi ở làng Cô Thôn” (thôn Phổ An bây giờ). 
 Cô Thôn nằm sát biển Đông;thuộc hạ lưu sông Trà, phiá Bắc giáp Cửa Đại, bên kia là Mỹ Khê (Sơn Tịnh), phiá Nam giáp Cửa Lỡ kề với thôn An Chuẩn (Mộ Đức), phiá Tây cách thôn Cổ Lũy bởi một dòng sông". Quê tôi cũng đẹp và thơ mộng không khác gì quê hương của thi sĩ Tế Hanh đã tả:
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây cách bể nửa ngày sông
Khi trời trong gió nhẹ cánh mây hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.

 Từ Cô Thôn đến trường tiểu học Nghĩa Hà hơi xa vì cách một chuyến đò nên cha tôi gởi tôi đến ngụ và ăn học tại nhà thầy giáo Hòa. Hằng ngày tôi đến trường với chiếc xe đạp, thỉnh thoảng cũng đi bộ vì trời mưa hay xe bị hư.
 Năm học cuối của bậc tiểu học, tôi có một người bạn học chung lớp chỉ ngồi cách một dãy ghế. Hoàng, cậu con trai nghèo, cha mất sớm. Ông Giáo chết vì máy bay Pháp ném bom xuống thôn Hiền Lương, bỏ lại một vợ và hai con. Hoàng lúc ấy bốn tuổi cùng với một em trai. Bà Giáo ở vậy nuôi hai con ăn học bằng nghề làm bánh xèo, bánh ít lá gai, gánh ra chợ Hàm Long bán. Hoàng học giỏi, tính tình hiền hậu, ít nói, thầy cô đều thương. Hằng ngày Hoàng đi bộ và ở lại ăn trưa tại trường để chiều không trễ học, hơn nữa về nhà không có chìa khoá. Mẹ phải dẫn em đi bán đến xế chiều mới hết thúng bánh.
 Có một hôm vô tình tôi làm Hoàng bị mặc cảm, vì ngày đó tôi cũng ở lại trưa. Khi hồi trống báo hiệu giờ học buổi sáng vừa dứt, tôi ngồi ăn ở cuối lớp với gói cơm mang theo trong cặp. Còn Hoàng, anh xoay qua xoay lại vì sợ tôi thấy. Anh lấy ra từ trong túi xách ba củ khoai lang và một túm mắm cà. Lúc ấy tôi không nghĩ gì hết, nhưng về thì biết bạn tôi buồn.
 Thời gian trôi qua nhanh. Sau 4 năm tình bạn xa cách, tôi gặp lại Hoàng cùng ngồi chung một lớp Đệ Tam B3 trường Trần Quốc Tuấn, cùng học Pháp văn với thầy Giao, đến hôm nay đã 50 năm trôi qua nhưng tôi vẫn còn hình dung được bóng dáng, giọng đọc của thầy qua bài: TỔ QUỐC TÔI của một nhà văn Pháp đã viết: “Tôi hãy còn là một đứa bé, nhưng tôi yêu tổ quốc tôi hết lòng, bởi vì nơi đó tôi đã lớn lên với những bài học của thầy tôi.” Đúng như thế, lòng yêu nước, ở đây không phải chỉ cầm súng ra chiến trường mới gọi là yêu nước (–thầy nói-) 
 Hoàng năm nay có vẻ một thư sinh, đẹp trai và nhanh nhẹn, nhưng vẫn hiền từ và ít nói như ngày xưa - nên có rất nhiều bạn - trong số đó có Liễu. Hoàng và Liễu mến nhau qua trang lưu bút mùa hoa phượng năm rồi. Từ đó, hai người thương nhau trong lứa tuổi học trò; họ thường chuyện trò và tâm sự với nhau sau buổi học cuối tuần.
 Hoàng và Liễu trao cho nhau những cánh thư qua dòng mực tím, trong trang giấy vở với nét chữ học trò. Hai người hẹn hò nhau sau buổi tan trường trên đường về, qua chuyến đò ngang sang sông Hiền Lương, rẽ về chân núi Bà Nhưng. Hai người xầm xì và đùa giỡn với nhau để rút ngắn con đường gồ ghề trên cánh đồng lúa vàng như chứng kiến tình yêu thương chung thủy của đôi uyên ương sắp thành vợ chồng. Xa xa đằng kia, đôi cò trắng đang lủi thủi tìm thức ăn bên vũng nước đọng cũng dừng lại, nhìn họ rất trìu mến.
 Tạo hoá sinh ra loài người và ban cho họ tình yêu. Hoàng và Liễu thương nhau, yêu nhau nhưng hoàn cảnh thật ngang trái, gia đình không cho phép: Hoàng mồ côi cha từ thuở nhỏ, gia đình nghèo. Liễu, con ông Phán, một gia đình giầu có, sống theo kiểu phong kiến đời xưa. Nên Hoàng và Liễu lén lút yêu nhau, ông bà Phán không biết. Liễu thường viết thư cho Hoàng hơn là Hoàng viết cho Liễu, vì muốn giấu ông bà Phán. Liễu với đôi bàn tay khéo léo, nàng đã thêu cái tên Nguyễn thanh Hoàng TQT 1B3 trên túi áo trắng cho năm học cuối, và chiếc khăn tay với hàng chữ "grand coeur" một bên là cánh hoa hồng 
 Bốn năm trôi qua, hết bậc trung học, đang lúc chiến-trường miền Nam sôi động lệnh tổng động viên ban hành. Người thư sinh ngày nào nay lên đường nhập ngũ. Trước ngày khoác áo chiến binh, bà Giáo cậy người mai mối đến thăm nhà Liễu. Ông Phán không bằng lòng. Bà Giáo ra về, trên đầu đội một thúng nếp, một buồng cau tươi vừa mới hái ngoài vườn, với vài ký đường lủi thủi bước đi không một lời than trách. Về đến nhà, bà vẫn tiếp tục công việc hằng ngày và bà tỏ ra yêu thương con mình hơn. Dồn nghị lực,bà nén nỗi buồn trong lòng biến thành tình yêu cho con. Hoàng đã trưởng thành, bà Giáo tin rằng ông trời không bao giờ để mẹ con bà cô đơn và đau khổ mãi đâu!
 Năm 1970, Hoàng và tôi tình cờ gặp nhau trên chiến trường Tây Nam thị xã Quảng Ngãi. Đơn vị anh chỉ huy bên kia đèo Eo Gió, tôi lại đóng quân ém sát Suối Bùn. Hai chúng tôi lúc đầu gặp nhau trên điện thoại và điều động hai đơn vị yểm trợ hỏa lực cho nhau. Khi chiến trường im tiếng súng, chúng tôi tay bắt mặt mừng,ôm nhau mà ứa lệ. Sau vài câu chuyện ở chiến trường và tin vui thắng trận, Hoàng mới cho tôi hay là Liễu đã sang ngang, Liễu vâng lời cha mẹ làm dâu nhà người. Lời Hoàng nói có một điều gì hơi chua sót cho phận mình. Tôi nhìn Hoàng trong bộ chiến y còn vương mùi thuốc súng, anh tỏ ra là một cấp chỉ huy gan dạ, một chàng trai hiên ngang can đảm, không một lời than trách người nữ sinh năm xưa. Hoàng nói với tôi ngày Liễu lên xe hoa, anh đã tặng nàng cặp áo gối màu tím hoa cà, vì anh nghĩ rằng Liễu không bao giờ quên những kỷ niệm khi đến nhà anh, cứ mỗi lần ra sau vườn hái cà, Liễu thường đọc mấy câu ca dao, tưởng như vô tình:
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em lấy chồng rồi anh tiếc lắm không?
và tất cả những bức thư tình bằng mực tím mà nàng đã gởi cho Hoàng.
 Đầu năm 1975, lại một lần nữa, chiến trường phiá Tây Nam Nghĩa-Hành trên triền núi Đình Cương, tiếng bom đạn đổ xuống cày xé quê hương, trận chiến ngày càng khốc liệt. Quân thù không để sót một ai, dù đó là người dân lương thiện. Đơn vị Hoàng cũng có mặt ở đó. Rất tiếc lúc này tôi không còn mặc áo màu ô liu, không còn vinh dự được yểm trợ cho Hoàng, một người bạn nghèo, cô đơn và nhiều đau khổ. Trong lúc anh đang suy tư, có lẽ anh nghĩ về mẹ già và đứa em trai còn ngồi ở ghế nhà trường, thì từ đâu đạn pháo bay lại. Cái gì đã đến với anh? Hoàng không còn biết gì cả, anh nằm im trên vũng máu kế bên là hai chiến hữu của anh. Sau đó người ta thấy đồng đội đã chuyển anh lên trực thăng về bệnh viện Đà Nẵng.
 Hơn sáu năm dài lê thê,sau khi ở tù về. Từ thị xã Quảng Ngãi đi xuống, trên đường từ thôn Hà Khê-Thu Xà về Nghĩa Hà để thăm lại Cô Thôn, xuyên qua làng Hiền Lương cũng bến đò cũ ngày nào, nhưng người lái đò năm xưa không còn nữa. Tôi tình cờ gặp lại Hoàng trước khi đến nhà anh. Lúc đầu hai chúng tôi nhìn nhau không tin là sự thật. Hoàng với chiếc nón lá trên đầu, một nửa bàn tay cầm cây sào, phiá trước mặt anh là một bầy vịt con, còn tay kia buông xuôi xuống. Hoàng trò chuyện với tôi qua điếu thuốc Cà Đỏ, bên bờ cỏ sông Hiền Lương. Anh tiễn tôi qua sông để trở về quê cũ. Trường xưa vẫn còn đó, tuy mái ngói đã có nhiều đổi thay. Tôi mời anh ly nước mía bên đường, hương vị ngọt ngào lại mang nặng tình cảm bạn bè và quê hương, cho nên mía Quảng Ngãi ngọt nhiều hơn nơi nào hết. Hoàng và tôi tâm sự với nhau vừa cạn ly nước, tôi định bắt tay chào tạm biệt thì Hoàng thở dài:
 -"Ôi, mầy đi lâu quá không thấy về thăm quê! Nhớ về ghé thăm tao nghe. Mầy thấy chưa? Chiến tranh tàn phá đã làm dân chúng chết chóc, quê hương mình lại nghèo thêm, còn tao thì mất cả hai: mất người em nhỏ và mất cả đôi bàn tay."
 Hôm nay ngồi ở đây viết lại những dòng chữ nầy, tôi chưa có dịp gặp lại Hoàng, người bạn đã để lại cho tôi một dấu ấn không thể nào quên được: Một hôm trong giờ học toán thầy Nguyễn Khoa Phương đã chứng minh: “Từ một điểm ở ngoài một đường thẳng, ta chỉ có thể vẽ một đường thẳng duy nhất thẳng góc với đường thẳng cho trước.” Sau giờ học ngoài hiên trường chúng tôi cùng nhau tranh luận về định luật đó, không chỉ trong toán học ở nhà trường mà còn đem ra áp dụng ngoài xã hội vì cuộc sống không có gì ổn định, đạo đức con người cũng dễ bị thay đổi. Thật khó xác định ai là bạn cùng chí hướng với mình. Vậy định luật về toán học mà thầy Khoa Phương đã dạy cho chúng tôi chính là bài học để làm người. Đúng vậy nên hôm nay Hoàng cô đơn, một thương binh nghèo nhưng tâm hồn lúc nào cũng hồn nhiên và trong sáng, chấp nhận mọi nghịch cảnh, tôi rất cảm phục Hoàng . Vì những người lành lặn như tôi còn vất vả khó khăn để tìm ra miếng ăn, huống chi một người như Hoàng mất đi một phần thân thể. Ai hiểu được sự hy sinh cao cả của Hoàng? Ai xót thương cho hoàn cảnh bi thương của một con người bị chiến tranh cướp đi sự sống, chỉ còn trơ lại một tấm thân trần trụi đầy thương tích.
 Mỗi lần có dịp nghĩ về quê hương là hình ảnh tật nguyền của Hoàng lại hiện lên, xâu xé lòng tôi, tôi bị ray rức như một cơn động kinh. Ngoài Hoàng, bạn của tôi, còn bao nhiêu người đang sống lây lất trên quê hương trong hoàn cảnh bi thương nầy. Tôi cúi đầu, thầm nhủ với lòng mình, nếu có dịp trở lại quê hương, trở lại vùng đất khô cằn chôn nhau cắt rốn, đã nuôi tôi lớn khôn, tôi sẽ tìm gặp Hoàng, người bạn tật nguyền, sống lặng lẽ chịu đựng trong bất hạnh, nghèo nàn từ thiếu thời cho tới tuổi già. Tôi nâng niu bàn tay tật nguyền còn lại của Hoàng để nói lên cái mất mát cao quý đó, để đổi lại cho những người khác được sống trong an toàn cho đến ngày nay, trong đó có tôi.
 Còn bao nhiêu người khác đang sống lây lất trên quê hương tôi, họ đang lê tấm thân trên đường phố, để mưu sinh trong các công việc thích hợp với khả năng tàn tật của ho, như bán vé số, ngồi một chỗ sửa xe đạp, ăn xin v.v. Có ai biết rằng trong số đó có những người trước đây là những đơn vị trưởng, những sĩ quan, những binh sĩ gan dạ, đã từng vào sinh ra tử tại các chiến trường, đã từng làm khiếp vía quân thù, đã bẻ gãy các cuộc tấn công của địch. Bây giờ đang thất kế sa cơ, sống âm thầm, lặng lẽ, chịu đựng trong một hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Bao nhiêu tủi nhục trút xuống trên đầu, bao nhiêu cái lầm than đói khổ đang tròng trên cổ. Đó là chưa kể những đòn thù của kẻ chiến thắng quất trên lưng họ. Tình "huynh đệ chi binh" mà ngày xưa trong mỗi người lính chúng ta đều thuộc nằm lòng, là kinh nhật tụng cho các thành viên chiến đấu để bảo vệ màu cờ sắc áo, bây giờ tìm đâu ra những chân thật của lòng người, những chân tình tận tâm giúp đỡ cho đồng đội của mình. Chỉ tìm thấy sự quay lưng chối bỏ, sự phản bội đầy dẫy của thế nhân, sự ngoảnh mặt làm ngơ chạy trốn trách nhiệm.
 Cung có những tấm lòng bao la trời biển nhưng ít ỏi quá. Ít ai đồng lòng tiếp sức để cho họ thực hiện những việc làm thiện nguyện,giúp đỡ cho đồng đội tàn tật bên quê nhà. Họ đơn độc làm việc trong hoàn cảnh khó khăn gần như tuyệt vọng, mà sự tiếp tay quá ít, song họ vẫn vui vẻ vì ho biết họ sẽ thấy được vài nụ cười hắt hiu đang trông chờ noi họ, để an ủi số phận kém may mắn của những con người bất hạnh. Tôi hằng đêm cầu Trời khấn Phật giúp đỡ cho những công việc làm lợi ích của cong dong được thành công.
 Quảng-Ngãi của tôi, Quảng-Ngãi bao giờ cũng sừng sững trong tim tôi, những địa danh thân thương như: Chợ Chùa, bến Tam thương, những đường phố quen thuộc mang tên những anh hùng hào kiệt như Quang Trung, Ngô Quyền, Trần hưng Đạo, mà quá khứ đã đánh đuổi giặcTàu để bảo vệ toàn vẹn giang sơn tổ quốc VIỆT NAM. Những ngõ ngách những con dường cụt đã in sâu trong lòng tôi. Tôi luôn luôn tâm niệm rằng: những trang sách, những bài gỉang của quý thầy cô, là những bậc cấp đưa tôi vào đời và hôm nay vinh dự được làm người con xứ Quảng. Chính vì những ưu việt ấy nên tôi phải mang tất cả mọi thứ của quê tôi trong người,như tôi đang mang những báu vật và tôi gìn giữ nó như chính tôi gìn giữ tấm thân của mình. Đến chừng nào tôi trở lại quê hương, không còn nhìn thấy cảnh đồng đội cũ của tôi, những thương phế binh đã cùng tôi chiến đấu, những cô nhi quả phụ mà chồng, mà cha của họ đã ngã xuống để bảo vệ giang sơn. Những người nầy được đầy đủ miếng ăn, áo mặc, được đứng thẳng người cùng với chúng ta. Họ không còn đi ăn xin, họ không còn mặc cảm thua thiệt, mặt họ được ngẩng cao lên hãnh diện.
 Biết bao giờ tôi nhìn thấy được Quảng Ngãi của tôi sống trong bình yên, trong lòng không còn lo sợ những nghiệt ngã của cuộc sống đe dọa, không một ai còn bị rình rập theo dõi. Những người gặp nhau trên đường phố luôn luôn hòa nhã với nhau. Tôi không cần Quảng Ngãi của tôi phải giàu có, tôi chỉ cần mọi người vừa đủ ăn, vừa đủ mặc. Những khuôn mặt trẻ thơ tươi tắn cắp sách tới trường, các em không phải bươi từng đống rác để lượm những bao nylon trong giờ học.
 Cái ao ước nhỏ nhoi đó của tôi biết đến bao giờ mới thành hiện thực? Đứng bên nầy đại dương, đôi mắt tôi bao giờ cũng hướng về bên kia quê hương nghìn trùng xa cách, với lời khấn nguyện chân thành của một đứa con xa quê mẹ, nhưng luôn luôn vẫn giữ tấm lòng thủy chung và thương mến. Những hinh anh đó không bao giờ phai nhạt trong lòng tôi.

Đỗ Ngọc Thạch


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn