Ôn trang sử cũ: NGÔ THÌ NHẬM

19/03/201412:00 SA(Xem: 40433)
Ôn trang sử cũ: NGÔ THÌ NHẬM
ÔN TRANG SỬ CŨ:
NGÔ THÌ NHẬM,
Bậc Đại Trí Thời Tây Sơn

 Trong chiến thắng Đống Đa mùa xuân Kỷ Dậu 1789 của Vua Quang Trung và quân dân nước ta đánh tan 20 vạn quân Thanh xâm lược, những ai quan tâm theo dõi đều để ý đến một nhân vật “bán văn bán võ” đã đóng góp những ý kiến mang gía trị chiến lược: Đó là NGÔ THÌ NHẬM (có người gọi là Ngô Thời Nhiệm vì sự kỵ húy nào đó).
 Trong cả triều đại Nguyễn Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm còn là một khuôn mặt tiêu biểu cho những sắc thái tiến bộ nhất của dân tộc, có thể so sánh với bậc anh hùng Nguyễn Trãi, 360 năm trước. Ngô Thì Nhậm kiêm nhiệm nhiều trách vụ trong các địa hạt chính trị, ngoại giao, quân sự lại là một nhà biên soạn Sử học, một triết gia trong khi vẫn trứ tác thơ phú và soạn thảo các bài Chiếu Biểu cho Quang Trung Hoàng Đế. Cuối đời, ông lập Thiền Viện tiếp nối nền thiền Trúc Lâm từ Trần Nhân Tông 500 năm trước, được Phật gia tôn là Trúc Lâm Đệ Tứ Tổ, sau ba vị Tổ khai sáng là Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, Pháp Loa Đồng Kiên Cương và Huyền Quang Lý Đạo Tái.
 Ngô Thì Nhậm sinh ngày 11 tháng 9 năm Bính Dần, tức ngày 25-11-1746, tại làng Tả Thanh Oai, thuộc huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay là ngoại ô Hà Nội). Ông tự là Hy Doãn, hiệu Đạt Hiên, khi về trí sĩ lập Thiền Viện có đạo hiệu là Hải Lượng Đại Thiền Sư. Ông là trưởng nam của nhà thơ và sử gia Ngô Thì Sĩ (1726-1780), một danh sĩ của đất Bắc Hà, ham chuộng đạo Phật. Ngô Thì Sĩ là con của Ngô Thì Ức, người mở đầu việc sưu tập các sáng tác trong họ thành tác phẩm “Ngô Gia Văn Phái”, nhưng mất sớm khi Ngô Thì Sĩ mới lên 10 tuổi.
 Từ năm 15 tuổi, Ngô Thì Nhậm được học với thân sinh, nổi tiếng thông minh ham học. Năm 1772, dự khảo thí ở Quốc Tử Giám, ông đỗ Ưu hạng. Năm 1775, ông đỗ Tiến Sĩ Đệ Tam Giáp cùng khoa với em rể là Phan Huy Ích. Ra làm quan, ông kiêm thông văn võ, về sau thăng Đốc Đồng Kinh Bắc và Thái Nguyên. Năm 1782, Thăng Long có loạn kiêu binh, cuộc đời ông đi vào một khúc quanh, ông phải trốn về quê vợ lánh nạn ở Sơn Nam (Thái Bình thời nay) gần 6 năm.
 Năm 1788, khi Quang Trung Hoàng Đế còn là Nguyễn Huệ, vượt ra Bắc lần thứ hai đã nghe danh ngợi khen “Ngô Thì Nhậm là giòng văn học Bắc Hà thông thạo việc đời” đã mời ông hợp tác với câu: “Có lẽ ý trời muốn để dành người cho ta dùng”. Cùng các tướng võ là Đại Tư Mã Ngô Văn Sở, Nội Hầu Phan Văn Lân, ông phụ trách việc cai trị Bắc Hà trong chức Tả Thị Lang Bộ Lại, được phong tước Tĩnh Thái Hầu. Cuối năm 1788, khi quân Mãn Thanh tràn qua xâm lấn, ông khuyên các tướng sĩ rút quân về đèo Tam Điệp để bảo toàn lực lượng, nuôi kiêu chí của giặc mà chờ vua Quang Trung phản công.
 Sau lễ đăng quang lên ngôi cửu ngũ, cuối năm 1788, vua Quang Trung hạ lệnh tiến quân ra Bắc đánh đuổi quân xâm lược. Tại cứ điểm Tam Điệp, vua Quang Trung phủ dụ tướng sĩ:
 “Bắc Hà mới yên, lòng người chưa phục, Thăng Long là nơi bị đánh cả bốn mặt, không có sông núi để nương tựa. các người đóng quân trơ trọi ở đấy, quân Thanh kéo sang, người trong kinh kỳ làm nội ứng thì làm sao mà đối phó được?
 “Các người đã biết nhẫn nhục để tránh mũi nhọn của giặc, chia quân ra chận giữ các nơi hiểm yếu, bên trong thì kích thích lòng quân, bên ngoài làm cho giặc kiêu căng, kế ấy là rất đúng. Thoạt nghe tin quân rút về Tam Điệp, ta đã phán đoán là mưu của Ngô Thì Nhậm, qủa không sai.
 “Lần này, ta thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã định sẵn. Chẳng qua mười ngày ta có thể đuổi được quân Thanh, nhưng nghĩ chúng là nước lớn, sau khi bị thua một trận ắt lấy làm hổ thẹn mà lo mưu báo thù. Như thế thì việc binh không bao giờ dứt, không phải là phúc của dân, nỡ nào mà làm vậy. Đến lúc ấy chỉ người khéo lời lẽ mới dẹp nổi việc binh đao, không phải Ngô Thì Nhậm thì không ai làm được. Chờ mười năm nữa cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu dân mạnh, ta có sợ gì chúng.”
 Sau chiến thắng Đống Đa, Ngô Thì Nhậm được giao trách nhiệm tiến hành phương sách ngoại giao với triều đình Mãn Thanh nhằm hòa giải mối quan hệ và làm cho vua Càn Long phải khâm phục và kính nể Việt Nam mà dẹp bỏ ý định trả thù. Chúng ta có thể nhìn thấy tính cách tương đồng trong đường lối đối ngoại của vua Quang Trung và Ngô Thì Nhậm đối chiếu với đường lối ngoại giao của vua Lê Thái Tổ và Nguyễn Trãi sau đại phá quân Minh ngày xưa: Những ý tứ lời lẽ trong các văn từ giao dịch với đối phương của Nguyễn Trãi và Ngô Thì Nhậm có nhiều nét đồng dạng, thể hiện kinh nghiệm, tinh hoa của nhân tài quốc gia, dân tộc trong sự nghiệp chống ngoại xâm.
 Trong triều Quang Trung, Ngô Thì Nhậm còn giữ chức Thượng Thư Bộ Binh, chấn chỉnh và kiện toàn binh bị để đề phòng cả Nhà Thanh lẫn quân của Nguyễn Ánh ở Gia Định. Hai năm sau, Ngô Thì Nhậm vừa là Thượng Thư Bộ Binh vừa kiêm chức Tổng Tài Quốc Sử Quán, cùng với quan Trung Thư Lệnh Trần Văn Kỷ soạn thảo nhiều văn kiện chính trị thời Quang Trung bằng các bài Chiếu, bài Biểu.
 Tháng 8-1792, vua Quang Trung băng hà, Ngô Thì Nhậm đại diện triều đình ta qua tới Yên Kinh báo tang và cầu phong cho vua Quang Toản, hiệu Cảnh Thịnh, lên kế ngôi. Sau khi Quang Trung Hoàng Đế mất, tài năng và sở học của Ngô Thì Nhậm không được trọng dụng. Ông lui về chuyên trách việc chép sử và chỉ còn giữ chức Giám Tri Văn Miếu Bắc Thành (Thăng Long) lo việc sửa sang nhà học và mở các khoa thi. Tình hình chính trị thời Cảnh Thịnh suy đồi vì các lục đục giữa các quan nên khoảng 1797-1798, Ngô Thì Nhậm xin cáo quan về mở Thiền Viện Trúc Lâm ở phường Bích Câu và nghiên cứu viết sách, thuyết giảng về Đạo Thiền.
 Năm 1802, Nguyễn Ánh chiếm Thăng Long, triều Tây Sơn bị sụp đổ. Cùng Phan Huy Ích, Nguyễn Gia Phan,… Ngô Thì Nhậm bị bắt đưa ra Văn Miếu đánh đòn. Trước đó, vì nóng lòng muốn được triều đình Mãn Thanh phong Vương, Nguyễn Ánh muốn đích thân lên tận cửa Nam Quan để nhận lễ cầu phong nên gọi Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích vào trong trướng hỏi ý. Ngô Thì Nhậm trả lời: “Việc Vua ta đến cửa Nam Quan xin phong là điều chưa từng nghe nói”. Nguyễn Ánh xấu hổ, tức giận, lệnh cho Đặng Trần Thường đánh ông đến chết. Ông mất ngày 16 tháng 2 năm Quí Hợi, tức ngày 7-3-1803.
 Ngô Thì Nhậm để lại khá nhiều tác phẩm; đủ loại thơ văn, khảo cứu, sử sách và những văn từ chính trị, ngoại giao, lẫn kinh kệ thuyết giảng về giáo lý Phật giáo, Nho giáo. Tác phẩm của ông bị thất truyền khá nhiều nhưng cũng còn lại một khối khá lớn chưa được khai dụng đúng mực.
 Thơ văn chữ Hán của Ngô Thì Nhậm có gía trị không thua kém bất cứ một tác gỉa nào từ Phan Huy Ích đến Nguyễn Du hay Cao Bá Quát, mà còn phản ảnh cả trí tuệ khoáng đạt và tâm tư thiết tha với sinh dân, với đất nước, với bậc lãnh đạo anh hùng Quang Trung – người ông rất kính trọng và tận tụy phục vụ.
 Cuộc đời Ngô Thì Nhậm là tấm gương sáng cho người đời sau về tinh thần tích cực tranh đấu cho dân, cho nước. Thảm kịch xảy ra vào cuối đời ông đã làm cho chúng ta xót xa, thương cảm.

Nam California, Mùa Vu Lan 2013
  BÙI THÚC KHÁN
 (Sưu tập)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn