HAI CHỮ BÌNH AN

20/03/201412:00 SA(Xem: 37026)
HAI CHỮ BÌNH AN
HAI CHỮ BÌNH AN

 Nhiều người vẫn gọi Đoan là thi sĩ, cũng đúng thôi. Thật sự Đoan ưa làm thơ lắm. Thơ cũng khá hay, thường có hàm ý tếu một cách sâu sắc. Phần nhiều là những bài thơ bốn câu, dễ nhớ. Một số bạn bè khoái thơ anh đến thuộc nằm lòng nhiều bài. Ngoài ra, Đoan còn ưa hát nghêu ngao, ưa ngâm thơ, hát ru, nói vè... Khi hứng lên, anh bất cần để ý đến mọi người chung quanh. Vì thế nên cũng có người cho anh là dở hơi, bất thường…
 Trong cuộc sống, Đoan không ích kỷ, không ưa tranh giành. Anh cũng không ưa để ý đến công việc của người khác.
 Bước chân vào quân ngũ, Đoan cũng thuộc loại gương mẫu, luôn chu toàn những nhiệm vụ được giao phó. Nhưng ở môi trường này, cái tính chân chất, dễ bảo của Đoan hay bị người khác lợi dụng, chèn ép. Thói đời vẫn mềm nắn rắn buông, ma bắt lựa người, Đoan phải gánh chịu nhiều thiệt thòi vì không phải vị thượng cấp nào cũng ăn ở công bằng cả. Đã nhiều lần Đoan thấy rõ việc khó người ta đừa cho anh, việc ngon thì kẻ khác hưởng. Đoan cũng biết uất, biết giận nhưng không thèm nói. Nhiều vần thơ của anh đã phát sinh từ những nỗi bực bội đó. Ban đầu anh chỉ sáng tác để cười, dù là cười méo mó. Về sau, thơ anh càng trở nên sâu cay. Những người gần anh rất hay tán thơ anh để làm vui. Nhưng những đối tượng có dính dáng những sự việc anh nói trong thơ thường phải nhảy nhổm lên khi họ nghe được. Vì thế, cái tài văn chương lại trở thành chướng ngại vật cho chính anh trên bước đường thăng tiến. Vị thượng cấp nào của anh cũng có thể tưởng anh đang chĩa mũi dùi vào mình.
 Đến năm 1975, Đoan bị vào tù. Ở môi trường này, tuy gặp vô số đề tài cười ra nước mắt nhưng anh đã biết tự chế. Anh hiểu lúc này không phải dễ đùa. Mỗi lời thơ móc méo, mỗi câu nói xiên xỏ nhiều nghĩa đều có thể đưa tác giả đến với cực hình. Khổ nỗi anh đã được nhiều người biết về tài làm thơ châm biếm. Cứ mỗi khi có một câu, một đoạn thơ châm biếm nào mọc ra, người ta lại nghĩ đến anh, lại nghi cho anh. Vào dịp Tết Bính Thìn, trong trại Đoan bỗng xuất hiện hai câu đối:
 “Độc lập mặc áo bao, bao cát, bao mì, bao chỉ đỏ.
 Tự do ăn cơm độn, độn khoai, độn sắn, độn rau xanh””
 Thế là anh bị cán bộ trại gọi lên tra vấn. Nhưng cán bộ trại cũng chỉ dọa già bắt nọn vậy thôi chứ chẳng có chứng cớ để làm gì được anh. Dù vậy, sự việc đó cũng khiến anh càng phải tự răn mình, tránh hẳn chuyện thơ phú. Anh nghĩ mình cần phải giữ gìn để có thể sớm về với vợ với con.
 Nhưng họa vô đơn chí. Sau khi được trại cho phép gởi thư thông báo với gia đình về nơi ăn chốn ở, đang khấp khởi chờ đợi tin nhà thì bất ngờ một lần nữa, Đoan lại bị nàng thơ quậy phá. Nguyên nhân gây nên chuyện thật ra chẳng đáng gì cả. Số là anh em tù hằng ngày được hưởng chế độ ăn uống quá kham khổ, lâu lắm đũa họ mới được đụng tới thịt heo một lần. Mà mỗi lần ăn thịt như thế, nhiều nhặng gì cho cam, mỗi người bất quá được một miếng bằng một hai đốt ngón tay. Nhưng sướng miệng được bữa đó thì người tù phải trả lại ngay bữa sau. Họ phải ăn muối hột liền mấy bữa để bù vào tiền mua thịt heo thâm qua. Thành ra hễ bữa nào được ăn thịt heo, dù là heo bệnh chẳng bán được cho ai, người tù lại biết chắc mấy ngày sau sẽ được ăn muối hột. Một anh tù nào đó đã cảm tác một bài thơ ngắn về đề tài này như sau:
Thịt heo! Thịt heo! Lại thịt heo!
Mỗi người một miếng tẻo tèo teo,
Ăn rồi gậm muối ba bốn bữa!
Thế vẫn cứ đòi ăn thịt heo!
 Trong tù người ta vẫn hay lấy chuyện tếu để giải buồn. Bài thơ cứ được những người tù chuyền tai nhau. Một lần mấy bạn tù cao hứng bàn tán về bài thơ ấy, Đoan bất chợt ngứa nghề cũng xía vào mấy lời. Không ngờ kết quả là anh phải làm kiểm điểm và bị phạt kỷ luật. Anh bị biệt giam hai tuần và bị cấm thăm gặp bốn tháng.
 Vụ tai bay vạ gió đó đã làm Đoan đâm ra sợ hãi cả những người bạn của mình.
 Trong thời gian thi hành kỷ luật, vào những ngày thăm nuôi, khi những người tù khác lần lượt được gặp gỡ người nhà rộn ràng xôn xao thì Đoan thường nằm chèo queo một chỗ để hoài niệm bóng hình những người thân yêu...
Đoan lúc ấy còn một bà mẹ đã quá già. Bà không những sinh thành, nuôi dưỡng thân xác anh mà còn là người đã nung đúc, đào luyện cả tâm hồn anh nữa. Những điệu hò, câu hát, những câu ca dao hàm chứa những tình cảm khi man mác, bâng khuâng, khi bùi ngùi, xót xa, khi đắng cay, uất nghẹn đã lần lượt thấm nhuần vào hồn anh qua giọng ru ngọt ngào của bà. Anh đã trở thành một người đa cảm, rộng lượng...
 Kế đến là Lan, người vợ trẻ của anh. Lan trẻ hơn anh gần một giáp nhưng hai người rất mực yêu nhau. Anh hồi tưởng lại mỗi lần sau khi hành quân nhiều ngày về mà nhớ nàng da diết...
Sau hết là bé Dũng, con trai đầu lòng của anh. Khi anh vào tù, Dũng bắt đầu tập nói. Nhưng giọng Dũng hơi lạ, có người nghi nó nói ngọng. Chưa rõ bây giờ hư thực ra sao?
*
Hết thời gian thi hành kỷ luật mấy ngày thì Đoan được gọi ra thăm gặp. Người xin gặp đúng là vợ anh, anh xúc động đến rơi nước mắt. Trước khi gặp mặt, Đoan đoán chừng có thể người nàng bây giờ gầy ốm héo hắt lắm. Nhưng Đoan hết sức ngạc nhiên, mừng rỡ khi thấy nàng lại có vẻ nõn nà, trắng trẻo hơn cả ngày trước. Tuy nét mặt nàng hơi buồn nhưng lại điểm thêm một vẻ gì e ấp, duyên dáng với chiếc nón lá nghiêng nghiêng bên hông. Anh nhìn vợ mình, lòng gợn lên bao niềm hãnh diện, sung sướng. Bên cạnh nàng là bé Dũng, thằng bé lúc này có vẻ khôn ra nhiều lắm. Chỉ tội nghiệp là nó đã thật sự mang tật nói ngọng. Nó tíu tít hỏi chuyện Đoan nhiều hơn mẹ nó. Cái giọng ngọng nghịu của bé Dũng khiến Đoan cảm thấy ngùi ngùi. Đoan hỏi chuyện nhà, được biết mẹ mình vẫn mạnh khỏe, anh càng mừng.
 Cuộc thăm gặp này đã đem lại trạng thái bình an và hi vọng trong lòng Đoan.
 Nhưng ngày thăm nuôi đợt kế tiếp cả nhà anh không ai đến. Đoan lại lo lắm. Anh cứ nghi ngại có điều gì không hay đã xảy ra. Mẹ anh? Vợ anh? Con anh? Vấn đề gì? Công bằng mà nói, người mà anh lo lắng nhất chính là mẹ anh. Vì bà đã quá già. Anh rất lo sợ sẽ không còn có dịp để gặp lại bà nữa. Anh đã trằn trọc mất ngủ nhiều đêm sau đó. Anh càng nôn nóng trông đến kỳ thăm nuôi kế tiếp.
 Rồi kỳ thăm nuôi lại đến. Đoan lại được gọi thăm gặp. Đoan vô cùng sung sướng vì người thăm gặp lần này lại chính là mẹ anh. Trời còn thương, mẹ anh vẫn còn! Nhưng Đoan không khỏi ngậm ngùi thương xót khi nhận thấy mẹ gầy ốm, run rẩy, chậm chạp hơn xưa nhiều quá. Bé Dũng cũng lẽo đẽo theo chân bà. Thằng bé gầy và đen hơn lần gặp trước. Đoan rưng rưng nước mắt nói:
-Mẹ à, sao Lan lại không đi? Mẹ già yếu thế ấy mà lặn lội đường xa cho khổ?
Bà mẹ già nói giọng hơi đứt quãng qua nụ cười héo hắt:
-Lan nó sửa soạn lên thăm con rồi đấy chứ. Nhưng mẹ nghĩ nó còn trẻ, không đi lần này thì đi lần khác, còn mẹ mỗi ngày mỗi yếu, sợ càng dài ngày càng khó đi. Vì vậy, mẹ bảo nó nhường cho mẹ đi đó.
-Thế Lan làm ăn ra sao, có khá không mẹ?
-Nó siêng sắng lắm, không đến nỗi nào đâu.
-Tội nghiệp cho Lan chân yếu tay mềm, con cứ sợ nàng không chống chọi được với đời! Nàng có hay nhắc đến con không?
-Ngày nào mà nó chẳng nhắc đến con chứ! Hãy gắng học tập cho tốt để về mà làm ăn với nhau con à.
-Lần Lan lên thăm, khi chưa gặp con cứ tưởng Lan gầy ốm lắm. Tới khi gặp Lan thấy nàng đỏ da thắm thịt, đẫy đà hơn trước con thật mừng hết chỗ nói.
Mắt bà mẹ rưng rưng, mặt bà hơi cúi xuống, nói:
-Nhờ máu nó tốt con ạ...
Bé Dũng chạy lại gần Đoan. Bé đưa tay sờ vào cái u nhọt ung mủ trên khuôn mặt đen sạm của cha nó.
-Ba bị gì vậy?
-Cái mụt nhọt.
-Có “au” lắm không ba? _ Bé Dũng nhìn cha ái ngại.
Đoan nhìn con âu yếm:
-Đau chứ con! Lần sau lên thăm nhớ nhắc mẹ đem cho ba một ít thuốc xức nghe!
-Mẹ... hông... i... âu...! _ Bé Dũng ngập ngừng.
Đoan trố mắt ngạc nhiên. Bà già thì có vẻ hoảng hốt gắt thằng bé:
-Đừng có nói bậy con! Bữa nay nội giành đi rồi thì mẹ phải ở nhà coi nhà chứ! Để lần sau Lan nó sẽ đem thuốc xức lên cho con.
Đoan kéo tay bé Dũng về phía mình, hỏi lại:
-Tại sao con nói mẹ không đi?
Bé Dũng thấy bà nội nhìn mình một cách khác lạ thì sợ hãi quay mặt về phía khác. Đoan vuốt tóc bé Dũng rồi lại hỏi:
-Con nói vì sao mà mẹ không đi?
-Tại... mẹ... ẻ... em... bé... _ Bé Dũng ấp úng.
Trong lúc bất ngờ, Đoan xô ngã đứa con ra. Đôi mắt anh long lên nhìn mẹ, hỏi gắt:
-Chuyện xảy ra thế nào sao mẹ không chịu nói với con?
Hai hàng nước mắt bỗng chảy dài trên đôi má hóp, bà mẹ đớ lưỡi không biết nói gì. Bé Dũng cũng hoảng hốt khóc thét lên:
-Ba! Ba ơi!…
Đoan hất những gói đồ thăm nuôi văng tung tóe hết rồi hét lớn:
-Trời ơi! Sao tôi khổ như thế này? Thôi, mẹ về đi!
Viên cán bộ trông coi việc thăm gặp chạy lại:
-Anh kia làm cái gì thế?
Đoan mặt mày nhễ nhại mồ hôi, quay lại phía viên cán bộ:
-Xin phép cán bộ cho tôi vào trại.
Rồi không đợi viên cán bộ cho phép, anh quay người đi thẳng vào cổng. Tiếng bà mẹ nghẹn ngào kêu lên:
-Đoan! Đoan! Lấy đồ vào đi con ơi!
-Ba ơi! Ba ơi...!
-Anh kia có chịu đứng lại không?
-Tiếng viên cán bộ la hét hòa lẫn với tiếng kêu réo của bé Dũng cùng tiếng nức nở của bà già. Nhưng Đoan vẫn không quay lại.
Khi vào tới sàn nằm, Đoan nhào xuống như cây chuối đổ. Nhiều bạn tù xúm quanh anh đến nghẽn cả lối ra vào. Họ thay nhau hỏi han, an ủi, khuyên giải Đoan...
Lát sau thì viên cán bộ bước vào, theo sau là một người tù mang theo những đồ thăm nuôi của Đoan. Những người chung quanh Đoan tránh ra nhường lối cho viên cán bộ và người tù mang giỏ đồ. Đoan vẫn nằm quay lưng ra phía ngoài, vai còn rung lên từng hồi. Người tù mang đồ thăm nuôi để giỏ đồ xuống bên cạnh anh.
-Anh Đoan, hãy cất đồ thăm nuôi đi!
Đoan vẫn không quay người lại:
-Tôi còn sung sướng gì nữa mà nhận đồ thăm? Cán bộ thông cảm cho tôi!
-Tôi thông cảm cho anh là không phạt anh về tội anh tự động bỏ phòng thăm gặp mà vào trại rồi. Bây giờ mẹ anh, con anh đã về hết thì trả đồ lại cho ai? Nếu có lỗi thì cũng lỗi ở người khác chứ mẹ anh, con anh có lỗi gì với anh? Anh có thấy mẹ anh phải chống gậy mà lên thăm anh như thế không? Sao anh nỡ xử sự như vậy? Anh hãy ngồi dậy mà cất đồ đi, nếu không muốn lôi thôi.
Lúc này Đoan đã bình tĩnh trở lại. Lời lẽ của viên cán bộ làm cho Đoan thấy nhột nhạt. Phải, mẹ anh, con anh có lỗi gì chứ? Anh hối hận vì trong một phút đau khổ cực độ, anh đã xử sự quá nông nổi. Anh thấy có lỗi với mẹ anh nhiều quá. Người vợ do anh lựa chọn chứ mẹ anh đâu có ép uổng gì anh? Sao anh nỡ dày vò mẹ mình thế này? Anh tin chắc mẹ anh đã đau khổ nhiều vì chuyện đó, việc làm mình làm mẩy vừa rồi của anh chỉ làm cho bà đau khổ thêm thôi.
-Sao tôi khổ thế này trời ơi!
Đoan lại gào lên. Có lẽ viên cán bộ nghĩ anh còn bị xúc động quá mạnh, gã gọi anh trưởng buồng tù lại nói:
-Mấy anh gắng an ủi anh ta đi. Anh ta bị “xóc” nặng lắm đấy.
Anh trưởng buồng nói:
-Dạ, cán bộ cứ để đó chúng tôi sẽ khuyên giải anh ấy.
*
Chiều ấy Đoan không lãnh phần cơm của trại. Anh cũng chẳng ăn uống gì cả mà chỉ nằm chèo queo. Nước mắt anh chốc chốc lại trào ra. Những người chung quanh cũng không ai quấy rầy anh...
“Trăm năm đành lỗi hẹn hò,
Cây đa bến cũ con đò khác đưa,
Con đò đã khác ngày xưa,
Cây đa bến cũ còn lưa tới chừ...””
Anh hồi tưởng mấy câu hát ru thuở nào mà buồn thúi ruột. Sự ví von sao nó sâu sắc thấm thía đến thế nhỉ? Đó là những câu mà mẹ anh đã từng hát cả hàng ngàn lần để ru anh rồi ru các em của anh. Mới đây, mẹ anh cũng như Lan cũng từng hát cả hàng trăm lần để ru bé Dũng nữa. Thường mỗi lần nghe những lời hát đó, Đoan thấy ngọt ngọt, buồn buồn một chút, anh nghĩ nó chỉ có tác dụng thuyết phục đưa đứa bé vào giấc ngủ chứ anh chưa bao giờ anh cảm thấy nó chua chát, bi thiết tới mức này. Không biết giờ này, khi ru dỗ đứa con ai đó, Lan có hát những lời này nữa không? Sao Lan lại phản bội mình nhỉ? Chẳng lẽ nàng đành đoạn quên đi bao nhiêu kỷ niệm đẹp, quên cả bao lời hứa hẹn? Không! Chắc vì một lý do bất đắc dĩ nào đó thôi! Những hình ảnh Lan lần lượt đi qua trong óc anh một cách êm đềm như chưa có việc gì xảy ra. Nhưng khi nhớ tới lúc trông thấy Lan đỏ da thắm thịt cầm chiếc nón lá che nghiêng nghiêng với vẻ e ấp thì Đoan phát khùng lên: “Cây đa, bến cũ, con đò! Khốn nạn! Đồ phản bội! Ta phải giết nó!”
*
Khi Đoan ra tù thì Lan đã về sống với cha mẹ nàng. Thế cũng tốt, nếu nàng còn ở lại chỉ làm cho anh khó xử. Mẹ đã giữ được bé Dũng cho anh là tốt rồi. Anh chưa già lắm, anh sẽ lập lại cuộc đời. Đã vượt qua được cửa ải tù tội, anh đâu còn ngại gì!
Đoan bắt đầu làm thuê làm mướn để cải thiện cuộc sống. Nhưng anh chỉ hơi vui được trong thời gian đầu khi mới thay đổi không khí từ người tù trở thành người thường dân mạt hạng. Dần dần anh nhận ra khoảng cách quá lớn giữa anh với những người chung quanh vẫn tồn tại. Anh bị cấm đi xa, hàng tháng phải trình diện chính quyền. Ở địa phương có việc gì nặng nhọc người ta lại trưng dụng anh. Lúc nào người ta cũng coi chừng anh, người cán bộ nào cũng có thể dạy bảo, sai khiến anh. Tiếng nói của anh thì chẳng ai nghe. Nói tóm lại, anh bị xã hội coi như một hạng tôi đòi dự khuyết, lúc nào cũng phải sẵn sàng ăn cơm nhà vác la ngà cho quan. Anh phải nghĩ cách tìm một lối thoát. Đó là con đường vượt biên. Nhưng chọn con đường này đâu có dễ gì? Đầu mối đường dây liên lạc? Tiền? Không bột làm sao vỗ nên hồ? Biết rằng quá khó nhưng Đoan vẫn cố cựa quậy. Sau cùng thì anh cũng dò được một đường dây. Nhưng anh làm sao có tiền?
Trong một bữa cơm chiều, anh hỏi mẹ:
-Vợ chồng thằng Tánh làm ăn khá không mẹ?
Tánh là chồng Nhớ, cô em ruột của Đoan. Lúc ấy Tánh đang làm đội trưởng một đội sản xuất trong hợp tác xã nông nghiệp ở xã. Trước 1975 Tánh là binh nhất địa phương quân nên khỏi bị đi tù, lại có người chú trước tập kết ra Bắc trở về bảo trợ nên không bị ảnh hưởng về chính trị mấy.
-Tụi nó cũng khá. Con hỏi có chuyện chi không?
Đoan nói nhỏ với mẹ:
-Con muốn mượn đỡ vài chỉ có việc!
Mẹ anh hỏi:
-Con cần làm gì thế?
-Mẹ thấy ở đây người ta đối xử với con như hạng nô lệ, làm sao con sống lâu dài được? Cho nên con tính vượt biên. Nếu con sang Mỹ được thì mẹ cũng đỡ khổ. Cần cỡ bốn năm chỉ là có thể đi được, con định liều hỏi cô Nhớ xem sao!
Mẹ trố mắt nhìn Đoan, vừa mừng vừa lo:
-Phải, mẹ thấy con khổ quá cũng khồng đành lòng, lâu nay mẹ cũng muốn nói chuyện đó với con nhưng chưa dám. Chỉ sợ đi không lọt lại vô ngồi tù nữa thì khốn thôi chứ bạc tiền bấy nhiêu không đáng lo lắm đâu.
Mắt Đoan sáng rỡ lên:
-Mẹ nói thật à? Con có một đường dây tốt lắm, ít ra cũng bảo đảm được tám chín mươi phần trăm, chỉ thiếu tiền thôi. Vậy mẹ nói tiền lấy đâu mà không đáng lo?
Mẹ nói nhỏ:
-Nhờ trời trước đây mẹ thường ăn tiêu dè xẻn, cũng để dành được một chút. Khi con chưa về, mẹ sợ mình già cả để trong mình lỡ có mệnh hệ nào tụi con không biết mất đi cũng uổng nên mẹ gởi ở con Nhớ. Sau này thấy chưa cần đến nên mẹ cũng chưa hỏi nó. Nhiều thì không có chứ năm chỉ trở lại để mẹ hỏi cho.
Đoan nghe mẹ nói mừng rơn lên. Anh hỏi lại:
-Mẹ gởi nó bao nhiêu? Nếu chắc như thế con liên lạc lại với người ta nghe mẹ!
-Chắc lắm chứ. Con Nhớ chứ phải ai đâu mà sợ tráo trở! Có được đường dây chắc chắn rồi thì con cứ liên lạc đi!
Khi liên lạc lại với đầu mối, Đoan được biết chuyến đi sắp khởi hành. Anh sung sướng thúc giục mẹ lo lấy vàng về cho anh.
Ngay hôm sau, mẹ Đoan hăm hở đến nhà Nhớ. Tuy Nhớ là em ruột của Đoan nhưng vợ chồng Nhớ ít khi lui tới nhà Đoan. Họ rất ngại ngùng vì Đoan là sĩ quan chế độ cũ. Mẹ đi rồi, Đoan mừng khấp khởi chờ đợi. Nhưng mãi tới chiều mẹ mới về nhà với vẻ mặt không vui. Đoan lo lắng hỏi:
-Sao lâu dữ vậy mẹ, con Nhớ đưa không?
-Nó nói giao cho thằng Tánh cất, nhưng thằng Tánh đi công tác chưa về.
Đoan linh cảm thấy có cái gì bất ổn, hỏi lại:
-Tánh nó đi công tác đâu mẹ có biết không?
-Không biết, nghe nói đi hơi xa thôi. Để ngày mốt mẹ sang lần nữa xem.
Lòng Đoan nóng như lửa đốt. Ngày hẹn đã gần tới. Chắc không xong rồi.
Hai ngày sau Đoan giục mẹ sang nhà Nhớ sớm. Nhưng gần trưa mẹ vẫn chưa trở về. Đoan quá nóng ruột nên đành làm bạo tìm đến nhà Nhớ thử xem sao. Vừa đến sân nhà Tánh, Đoan đã nghe tiếng mẹ nói bên trong có vẻ bực bội:
-Giờ tao nói sao với nó đây? Tao thấy nó quá khổ không đành lòng, muốn cho nó được thỏa mãn, có sao mình cũng đỡ bị dằn vặt trong lòng... Tao không có sống bao lâu nữa đâu, giữ của để làm gì? Nó đang cần lắm, con hỏi mà lấy đưa lại cho mẹ đi!
Tiếng Nhớ gay gắt:
-Mẹ thử coi, bao nhiêu năm đi lính anh ấy đem về được cho mẹ cái gì chứ? Bỏ ra biết bao nhiêu để rước một con đĩ thúi về ăn hại! Rồi mấy năm ở tù nữa, đi lại thăm nuôi tốn kém hết lớp này đến lớp khác chưa bưa à? Giờ lại đòi đi! Vô tù một lần nữa là cái chắc! Lỡ mẹ đau yếu lấy gì mà thuốc thang? Ai lo cho mẹ? Không phải con không thương anh ấy, nhưng con phải lo cho mẹ trước đã chứ!
Giọng mẹ nghẹn ngào:
-Nhưng nó là cái núm ruột của tao! Chẳng thà tao khổ, tao chết cho nó thỏa mãn tao cũng vui lòng. Không cần lo cho tao nữa, con hãy lấy về để mẹ đưa cho nó!
Giọng Nhớ có vẻ cương quyết:
-Không được! Tới khi vỡ chuyện ra thì con này gánh chịu chứ ai vào đây nữa?
Đoan nghe tiếng mẹ khóc thút thít. Sự việc như thế là quá rõ rồi. Anh lặng lẽ cất bước về nhà.
Khoảng nửa chiều thì mẹ trở về, hai mắt hơi húp, người bà có vẻ căng thẳng, luống cuống. Đoan không muốn mẹ khổ tâm thêm nữa nên nói ngay:
-Mẹ ạ, người ta đình chuyến đi lại rồi. Mà thôi, con cũng không trù đi nữa đâu. Ở nhà làm ăn cũng được. Chẳng lẽ đời như thế này mãi hay sao!
Mẹ nhìn Đoan hơi ngạc nhiên:
-Thế à! Cũng may, con Nhớ nó chưa chịu trả lại chỉ nào hết làm mẹ lo quá.
Đoan bất giác thốt ra:
-Thịt mỡ vô miệng mèo rồi. Nó không nhả đâu mẹ!
-Con nói sao?
Đoan cười chua chát:
-Con nghĩ mẹ đã gởi trứng cho quạ rồi!
Mẹ anh sững sờ:
-Con nói có lý lắm, mẹ thấy nó cứ lẽ này lẽ nọ nói quanh nói quất. Nhưng tại sao con đoán như thế?
Đoan cười:
-Nhìn tư cách thằng em rể là con đoán ra chứ khó gì? Còn con Nhớ thì “thà mất lòng anh được bụng chồng” là cái chắc!
*
Vụ vượt biên mà Đoan định tham gia đã thành công làm cho anh tiếc hùi hụi. Anh càng oán và càng xa cách đứa em gái. Không có cách gì khác, anh tự an ủi cuộc sống bây giờ vẫn còn khá hơn trong tù vì anh còn gần gũi được mẹ và con anh. Anh cố gắng làm ăn, buông chầm cầm chèo, tiết kiệm từng chút thì giờ, để gia đình khỏi túng thiếu. Anh rất hài lòng khi thấy mẹ đỡ vất vả hơn trước và con anh hằng ngày được vui vẻ cắp sách đến trường.…
Nhưng mẹ anh đã không ở với anh được bao lâu. Ngày làm đám tang mẹ, vợ chồng Nhớ có đưa cho anh một chỉ vàng để lo việc. Anh nhận lấy và cũng chẳng hỏi han gì thêm. Từ đó về sau vợ chồng Nhớ cũng chẳng bao giờ nhắc đến số vàng còn lại.
Trong thời gian lo việc cho mẹ, Đoan biết thêm một tin buồn nữa. Một người bạn vô tình cho anh biết thằng con anh hư hỏng. Trong khi anh chăm chỉ làm lụng để lo cho tương lai của nó thì nó lại lừa dối anh. Anh đâu có đủ thì giờ để kiểm soát sự học hành của nó? Hằng ngày nó cứ đến trường, nhưng để tụ tập đàn đúm cờ bạc, quấy phá thiên hạ nhiều hơn là học. Dũng đã học tới lớp tám mà vẫn không có được bao nhiêu vốn liếng kiến thức. Anh thất vọng vô cùng...
Lúc bấy giờ xã hội Việt Nam đang rơi vào cơn lốc ”số đề”. Chơi đề là lối chơi ăn thua vào số trúng đầu tiên và số đuôi của vé trúng độc đắc. Đánh trúng số 2 con số thì 1 ăn 70, đánh trúng sô 3 con sô hoặc 4 con số thì tỉ lệ ăn càng tăng cao... Đa số dân chúng không có cách gì tự tạo được một cuộc sống thoải mái cho bản thân, cho gia đình, họ chỉ còn biết trông cậy vào sự hên xui đưa đẩy. Trong các môn cờ bạc, không có môn gì chỉ cần một số vốn rất nhỏ cũng được tự mình tham gia cuộc chơi, lại có hi vọng bội thu rất lớn như chơi số đề. Thời Cộng Hòa, toàn quốc chỉ xổ số mỗi tuần một lần nên việc chơi số đề không nảy nở được. Trái lại, dưới thời xã hội chủ nghĩa, mỗi tỉnh đều có quyền tổ chức xổ số hàng tuần, thành ra nhiều ngày có tới hai ba cuộc xổ số. Do đó, người dân có thể chơi số đề rất thoải mái. Chơi xổ số của nhà nước tuy có thể trúng lớn nhưng rất ít lô trúng. Vả lại, rất ít ai chịu bán thiếu. Vì thế, người bình dân ít mua vé số mà chỉ thích chơi đề. Chơi số đề tuy trúng nhỏ nhưng dễ trúng hơn, con bạc lại có thể mua chịu hoặc mua trả bằng hiện vật nên rất tiện. Vài củ sắn, nửa lon gạo, một con gà nhỏ đều có thể ghi một con số tùy giá trị của nó, ai mà chẳng ghi được! Số đề tuy bị nhà nước cấm, nhưng dĩ nhiên, những tay kinh doanh biết làm cách nào để chơi cho an toàn và lâu dài. Ngày nào cũng có đài xổ nên người chơi có thể chơi liên tục ngày này qua ngày khác. Tất nhiên cách nào thì những kẻ đam mê cũng phải nhịn ăn nhịn uống, nhịn sắm nhịn mặc để “phụng sự” đám thầy đề. Thấy cảnh đó, Đoan đau lòng lắm. Bức chí, hồn thơ anh lại trỗi dậy. Có người đi vay ngân hàng Tín Dụng để trồng cà phê hay trồng điều, thế rồi lỡ thua số đề nợ không trả nổi phải bán đất, bán nhà. Hằng tháng nợ cũ được cộng với tiền lời biến thành một món nợ mới lớn hơn. Mỗi tháng vốn nợ lại mỗi đổi thay trông đến chóng mặt. Nghĩ đây là một tệ đoan mà chính nhà nước cũng không ưa, anh viết ra một bài thơ lấy tựa là “Dịch Số Đề” như sau:
“Tai ương đề số cứ loang ra
Đói rách lây lan giống dịch gà
Của cải tư trang tan tợ tuyết
Đồng tiền Tín Dụng múa như ma
Anh Đinh lủi thủi đi cầm đất
Bác Bính lăng xăng chạy bán nhà
Chỉ mập cha con cò cái chúng
Thuốc thơm rượu tốt miệng ba hoa!”
Viết xong bài thơ, Đoan khoái chí lắm. Anh đắc ý nhất là câu “Đồng tiền Tín Dụng múa như ma” khi nói lên được đồng tiền vay của ngân hàng Tín Dụng mỗi tháng mỗi nhảy giống như ma đùa. Bài thơ anh làm xong, được nhiều người, nhất là những người từng chịu cay đắng vì số đề, thích thú ngâm nga.
Hai ngày sau lại có một bài thơ họa của ai đó xuất hiện, đó là bài “Vịnh Số Đề:”
“Khen ai khéo đặt số đề ra,
Rồng, rắn, hổ, beo, ngỗng, vịt, gà
Tên tuổi lưu truyền còn có đó
Bởi người mê muội hóa ra ma!
Có tài có đức nên danh phận
Vô phước vô “doan” chẳng cửa nhà
Chỉ tại số phần anh hẩm hút
Cớ sao chẳng ngậm dám ba hoa?”
Hai bài thơ chọi nhau đã tạo hứng thú cho nhiều người. Bất ngờ có một anh trong diện văn nghệ sĩ miền Nam tập kết ra Bắc mới trở về, không được giữ một vai vế nào trong chính quyền hiện hữu, đang hồi rảnh rỗi, cũng hứng chí nhảy vào cuộc “thi chiến”. Anh ta họa lại hai bài trên với cái tựa “Vịnh Chơi Đề”:
“Chiều nay nhẩm tính số nào ra
Chồng tuổi con dê vợ tuổi gà
Những tưởng xanh mơ chơi sạch túi
Nào ngờ vàng mộng chỉ còn ma
Công danh phú quí đâu hai chốn?
Cờ bạc bần ti cũng một nhà!
Cái lũ láo lường hư xã hội
Vinh gì dám mở miệng ba hoa?”
Cái thú văn chương hễ gặp bối cảnh thích hợp là trở nên đắc dụng. Những người dân dù yêu hay ghét số đề trong xã đều tỏ ra thích thú đọc đi đọc lại và bình phẩm những bài thơ ấy. Mưa rào đầu mùa cóc nhảy lom xom, nhiều bài thơ tạp nhạp nói về số đề cũng đua nhau xuất hiện. Bài thơ của Đoan không ngờ đã khơi nên một nguồn dư luận hướng dẫn mọi người lưu tâm đến cái tai ương đó. Nghĩ rằng loại thơ này không dính đến chính trị, lại cảnh tỉnh cho xã hội, Đoan hí hửng toan bồi thêm một bài nữa. Nhưng thình lình Đoan bị công an mời lên ủy ban xã hỏi chuyện. Khi Đoan đến trình diện xã, người ta đưa anh vào phòng công an. Thấy Đoan, viên trưởng công an nghiêm mặt hỏi:
-Anh biết vì sao ủy ban xã mời anh đến đây không?
-Thưa, tôi không rõ.
-Anh cho rằng ủy ban xã không tai không mắt phải không? Anh đang có mưu đồ gì? Đừng hòng qua mặt nhân dân nhé! Anh đã lợi dụng thơ phú để xuyên tạc, công kích nhà nước xã hội chủ nghĩa. Anh mượn tiếng nói về số đề nhưng mục tiêu của anh là vu khống cho nhà nước lập ra ngân hàng Tín Dụng với mục đích cho dân vay tiền để đánh đề phải không? Anh cả gan phát động một phong trào làm thơ bôi bác chế độ. Thâm ý của anh ai cũng thấy rõ, anh còn chối cãi nữa thôi? Tôi hỏi thật, bây giờ anh muốn gì?
Đoan vừa kinh ngạc vừa sợ hãi. Có lẽ do bọn kinh doanh số đề cảm thấy có sự đe dọa đến công việc làm ăn của mình nên chúng ra tay ngăn chận chăng? Đoan cố trấn tĩnh tinh thần rồi giải thích:
-Thưa ông, chắc ông cũng biết, cái nạn số đề đang làm cho nhiều gia đình lâm cảnh khốn đốn. Tôi thấy đó là một tệ đoan cần được bài trừ...
Viên công an cắt ngang:
-Việc đó đã có chính quyền ngăn chận, anh có nói cũng bằng thừa. Vả, anh lấy tư cách gì mà nói?
Viên trưởng công an mới nói được mấy lời thì có một anh du kích đến mời anh ta sang gặp chủ tịch ủy ban xã có chuyện gấp. Anh ta bảo Đoan:
-Anh cứ ngồi đây đợi. Lát nữa tôi trở lại làm việc tiếp.
Viên trưởng công an ra khỏi phòng chốc lát thì Đoan nghe tiếng hét lớn từ phía phòng chủ tịch xã vọng lại:
-Thằng nào ngoan cố lôi ra vườn cao su bắn bỏ, cứ bảo nó cướp súng của du kích là xong. Có gì tôi chịu trách nhiệm hết!
Đoan hồi hộp lo lắng không biết người ta đang nói về chuyện gì? Cả tiếng đồng hồ sau vẫn không thấy viên trưởng công an trở lại. Phòng công an vẫn chẳng thấy ai ra vào. Đoan bắt đầu thấy mắc tiểu nhưng không dám tự tiện ra khỏi phòng. Lòng anh càng hồi hộp cái bọng đái anh càng căng. Tới lúc cảm thấy chịu không nổi, anh bước ra cửa phòng nhìn quanh nhưng chẳng thấy bóng dáng một ai lai vãng. Mặt trời đã đổ về chiều. Người ta đang âm mưu hại anh chăng? Bây giờ nếu Đoan tự động tìm chỗ tiểu tiện, lỡ bọn du kích lại cho anh định tìm đường trốn thì càng khốn. Nước tiểu bắt đầu són ra từng giọt và mùi khai đã từng đợt thoảng bốc lên mũi anh. Với tánh tình nhút nhát cố hữu, anh lại trở vào phòng công an ngồi chờ mặc cho cơn mắc tiểu hành hạ. Mãi tới lúc mặt trời gần lặn, viên trưởng công an mới trở lại. Anh ta hách dịch nói với Đoan:
-Lần này tôi đang bận nhiều việc nên tạm bỏ qua chuyện làm thơ phản động của anh. Anh phải nhớ, nếu anh còn làm một bài thơ nào nữa, dù thơ thuộc loại gì, tôi cũng sẽ tính sổ với anh. Anh phải tuyệt đối bỏ hẳn cái nghề thơ phú của anh nếu anh không muốn vào tù trở lại. Giờ cho anh về đi!
Đoan hoàn hồn đứng dậy bước ra khỏi phòng công an. Việc trước tiên là anh lủi vào một chỗ vắng người...
Trải gần một ngày khốn đốn cả tinh thần lẫn thể xác, Đoan nghĩ lại mà giật mình. Anh đâm giận cái hồn thơ của mình. Hình như từ trước đến giờ anh chỉ cho ra đời được những bài thơ phản chủ. Anh tự hứa: Ta nhất định từ nay không bao giờ làm thơ nữa!
*
Đến năm 1988 thì nguồn tin về chương trình tái định cư những cựu tù nhân chính trị Việt Nam tại Hoa Kỳ được bàn tán xôn xao. Nhiều cựu tù nhân chạy ngược chạy xuôi để lo hồ sơ. Ông Đoan vừa không có tiền, vừa không dám tin đó là sự thật nên vẫn lặng lẽ llàm ăn. Những người chung quanh, kể cả cán bộ địa phương, đều ngạc nhiên hỏi ông nhưng ông chỉ trả lời không muốn đi đâu hết.
Rồi chương trình phỏng vấn để ra đi của những người cựu tù trỗi dậy rầm rộ hẳn lên. Những người cựu tù chính trị bắt đầu được xã hội nhìn lại bằng những cặp mắt khác. Khi những chuyến bay chở những đợt người tái định cư đầu tiên lên đường thì hình bóng những người cựu tù thật sự trở thành niềm khao khát của nhiều giới, đặc biệt là những người đàn bà đang sống lẻ loi. Những cán bộ địa phương từng tỏ ra nghiêm khắc, khinh miệt đối với ông Đoan lúc này cũng cười chào cởi mở khi gặp ông.
Đến lúc này ông Đoan muốn ở yên cũng không yên được nữa. Nhiều người khách lạ lần lượt đến gặp ông. Ông phải khó khăn để tránh bớt những cuộc tiếp xúc này. Mục tiêu của họ là được hợp đồng ghép đôi với ông để được sang Hoa Kỳ. Người nào cũng giàu, cũng đẹp, cũng đưa ra những điều kiện dễ dãi. Ông Đoan vừa hãnh diện vừa hoang mang, bối rối. Tất cả những ứng viên đó đều đèo theo cả lũ con, có người lên tới sáu bảy đứa. Ông phải cố chọn thật kỹ một người để “trao duyên gởi phận”.
Sau cùng, ông Đoan quyết định chọn bà Bích, người có số con ít nhất: một trai một gái. Bà Bích vốn nghề buôn bán, chồng đã mất trong chiến tranh, khá đẹp, ăn nói bạo dạn và duyên dáng. Đầu tiên bà Bích chịu bao biện hết tất cả mọi phí tổn để lo giấy tờ hợp lệ và thủ tục xuất cảnh. Tiếp đó bà Bích trao cho Đoan một cây vàng để ông mặc ý tiêu xài. Ông chỉ hợp tác với bà Bích khi cần thiết trong thời gian làm thủ tục. Ngoài ra ông cứ việc ăn chơi, nghỉ ngơi, chờ đợi ngày lên đường. Thế là ông có một gia đình mới gồm năm thành viên: hai vợ chồng với ba đứa con Thuận, Thảo và Dũng. Thuận và Thảo con của bà Bích lớn hơn Dũng, vốn ở thành thị, học hành cũng tương đối khá. Riêng Dũng, con riêng ông, không được ai kềm cặp chu đáo nên thiếu căn bản, tính tình lại lếu láo khiến ông Đoan không khỏi cảm thấy buồn...
Cuộc phỏng vấn để ra đi của ông Đoan không gặp trở ngại nào. “Gia đình” ông Đoan đã đến đất hứa bình an. Ông phấn khởi nghĩ rằng mình sẽ tạo dựng được một vận hội mới. Thế nhưng khi bước chân vào trường học, ông cảm nhận ra ngay mình đã hết thời. Khi thầy giáo dạy tiếng Mỹ, ông hết sức chú tâm lắng nghe để thu nhận nhưng kết quả rất giới hạn. Ông nghe không nổi và phát âm lại càng khó khăn. Cứ qua một giấc ngủ là bao nhiêu điều ông đã học được ở trường trong ngày tan biến hết. Hôm sau, khi thầy giáo hỏi bài cũ, ông lại ngơ ngác, ngượng ngùng nhìn vu vơ. Dần dần ông đâm ra sợ gặp thầy giáo.
Trong khi đó, bà Bích cùng hai đứa con Thuận, Thảo đều học hành tiến bộ thấy rõ. Chính Dũng, thằng con ngọng nghịu của ông cũng tiến bộ qua mặt ông luôn. Thế là cả nhà chỉ còn một mình ông chưa tiếp xúc được với người Mỹ. Buồn tình, ông bỏ trường để đi theo làm thuê làm mướn cho những người đồng hương trồng rau, cắt cỏ. Trong bước đầu, công việc này tuy cực nhọc nhưng ông thấy tâm trí dễ chịu hơn. Hằng ngày ông chỉ tiếp xúc với những người đồng hương mà vẫn có thêm được chút tiền. Với vị chủ nhân nào cũng vậy, một hai ngày lúc sơ giao, ông thấy công việc người ta giao cho mình có vẻ nhẹ nhàng, khiến ông ngỡ như mình có thể làm lâu dài.
Nhưng chỉ được mấy ngày, ông thấy người ta làm hùng hục như đuổi bắt thời gian. Tuy chẳng ai thúc giục nhưng ông không thể không làm như người ta. Nhất là vào mùa nắng ở Mỹ đêm ngắn ngày dài, thời gian làm trong ngày cũng tự nhiên kéo dài ra. Có ngày ông phải làm việc gần mười bốn tiếng. Chỉ qua vài tháng ông Đoan đã thấy mệt. Nghĩ trở lại trường học cũng sợ, ông Đoan đành đánh liều làm đơn xin tiền bệnh. Ông đã trở thành một diễn viên đóng tuồng bất đắc dĩ trong một thời gian để đạt mục tiêu.
Dù được hưởng tiền bệnh, ông Đoan vẫn không mấy vui. Ông cảm thấy đời mình đã thực sự vô dụng, đã thực sự đi vào ngõ cụt.
Riêng bà Bích, bà là người năng nổ, hoạt bát và có đầu óc rất thực tế. Bà đã từng là tay buôn bán đường dài lão luyện. Gặp bất cứ tình huống nào bà cũng xoay xở đối phó dễ dàng. Người ta đi buôn lắm kẻ sa cơ lỡ vận chứ bà Bích thì chưa bao giờ. Qua trạm kiểm soát nào, mấy viên công an vẫn phải đối xử với bà như với người chị cả. Thậm chí nghe bà kêu khát nước là có anh đi mua ngay cho bà một ly nước chanh hay một miếng dưa hấu. Những thành công trên đường đời khiến bà càng tự tin đến độ kiêu ngạo. Trước kia bà cần ông Đoan như một phương tiện. Bà đã đạt kết quả. Bây giờ trước mắt bà, ông Đoan đã thành kẻ vô dụng, thành của nợ.
Thường ngày ông Đoan vẫn ở nhà một mình. Ngày xưa ông chỉ biết việc văn phòng, việc đánh giặc rồi sau cùng là việc cuốc đất. Việc nội trợ, quét nhà giặt áo... ông chưa quen lắm. Hiện tại những khuyết điểm này của ông đã làm bà Bích ngứa mắt. Một lần cả nhà đi học về trễ, giở nồi ra thấy hết cơm, bà Bích hét:
-Ở nhà bận chi lắm mà không biết bắc nổi nồi cơm? Tôi không về thì nhịn đói à?
Rồi bà Bích đến bên cái thùng rác, đưa tay cầm miệng cái bao nylon giật giật:
-Rác ngập lên thấu đầu cũng không nhớm phước mà đổ đi giùm, cái gì cũng sợ mất công, cái gì cũng đợi tay con mẹ này hết!
Ông Đoan một mực nín thinh. Thuận nhìn mẹ nhăn nhó:
-Mẹ thì...
Một lần đi chơi về, bà Bích thấy ông Đoan đang cầm phôn nói chuyện. Có lẽ bà cũng đang cần dùng phôn, bà cứ nhìn ông chòng chọc. Một chốc sau hình như mất cả kiên nhẫn, bà Bích gầm lên:
-Cả ngày ở nhà nói chuyện chưa bưa à? Cứ giữ riệt cái phôn không muốn cho ai dùng nữa sao?
Ông Đoan bèn xin lỗi người bên kia đường dây rồi gác phôn. Thuận thấy vậy nhăn nhó nói với bà Bích:
-Bạn bè ba gọi ba không lẽ ba không nói chuyện với người ta? Mẹ muốn dùng phôn đợi một chút đâu có chết? Sao lại hét tướng như vậy người ta nghe thì sao?
Bà Bích hét lớn hơn:
-Mày thì lúc nào cũng chực bênh ông ấy! Bộ mày nghĩ ông ấy là cha mày thật sao? Đồ cái thứ bất hiếu!
Thuận không chịu được, hỏi lại:
-Con làm gì mà gọi là bất hiếu? Ăn quả nhớ kẻ trồng cây! Nếu không có ba làm sao mẹ con nhà mình qua Mỹ được?
Bà Bích lại càng hét tướng lên:
-Mày bảo nhờ ông ấy à? Nhờ cái gì chứ? Hát ô với hát hỏng, không có con này bỏ tiền ra thì cái mặt ngơ ngơ đó cũng còn đạp xích lô xe thồ ba bữa đói một bữa no ở Việt Nam chứ làm sao mà sang đây được? Đồ cái thứ phản phúc ăn cháo đá bát!
Ông Đoan thở dài bỏ vào giường nằm. Thuận cũng lẳng lặng vào phòng tắm.
Những ngày mới đến Mỹ, ông Đoan cũng có nhiều bạn bè hay gọi phôn hoặc đến nhà thăm viếng. Nhưng dần dần họ nhận ra cái không khí không được vui vẻ giữa hai vợ chồng này. Vài người bạn vẫn đùa với nhau: “Tao đến thăm thằng Đoan mà cứ gặp mặt bà nữ quản giáo tao ngại quá!”. Hoặc: “Gọi hắn bao nhiêu lần đều gặp phải nữ quản giáo, lúc nào bà cũng bảo hắn đang bận!”. Bây giờ thì chẳng mấy người còn liên lạc với ông. Ngay cả thằng Dũng, đứa con ruột của ông, cũng không mấy khi gần gũi ông nữa. Trong nhà này chỉ có Thuận là người còn quan tâm đến ông.
Thời gian mới đến Mỹ, Thuận là kẻ đầu tiên trong gia đình có xe để lái. Xe Thuận là cái chân chung cho mọi người: đi học, đi chợ, đi khám bệnh, đi làm giấy tờ. Tính Thuận siêng năng, nhẫn nại và rộng lượng. Ai cần đi đâu hễ rảnh là Thuận chở ngay. Ông Đoan là người ít bước lên xe nhất. Ông chỉ chịu đi những khi nào thật cần thiết.
Lúc rảnh rỗi Thuận thường ngồi trò chuyện với ông Đoan. Một hôm Thuận nói:
-Ba ưng đi chơi đâu con chở ba đi. Ba phải đi đây đi đó cho thư thới con người chứ cứ nằm hoài chán chết! Đi thăm viếng bạn bè cũng được, ba cứ ở lại nhà bạn nhậu nhẹt tâm sự thoải mái, xong gọi con đến chở về.
Ông Đoan thật sự cảm kích vì những lời đầy chân tình của Thuận. Nhưng lúc nào ông cũng chỉ biết cám ơn mà chẳng đi đâu. Ông đâu còn sung sướng gì mà tìm đến bạn bè! Một lần khác Thuận đề nghị:
-Hay ba gọi mời bạn bè lại nhà mình chơi một bữa? Con tình nguyện lo đầy đủ đồ nhậu cho ba. Chỉ cần báo trước cho con một tiếng là đủ!
Bà Bích nghe con nói thế giận dỗi phản ứng:
-Ông ấy làm gì mặc ông ấy! Chìu kẻo mất nhờ đi à? Cái thân đàn ông mà không làm nên tích sự chi lại còn bắt người khác phải lo cho mình nữa, thật đáng xấu hổ!
Thuận bực mình quay sang nói với mẹ:
-Mẹ thật quá đáng lắm rồi đó!
Rồi Thuận lại quay sang ông Đoan:
Mẹ con ăn nói ẩu tả, ba đừng để ý làm gì!
Những chuyện tương tự như vậy vẫn xảy ra đều đều. Bà Bích vẫn không từ bỏ một cơ hội nào để mắng mỏ hành hạ ông. Ông Đoan vẫn một mực im lặng trước bà vợ hay ồn ào. Đã nhiều đêm ông mất ngủ nằm suy nghĩ mông lung. Ly dị ư? Chỉ tổ làm cho người ta cười. Ông không muốn tai tiếng bay về Việt Nam. Hơn nữa, với bản tính rụt rè, với sự yếu kém ngôn ngữ trên đất nước tạm dung, ông không muốn thành con ngựa lạc giữa xã hội xa lạ này.
*
Ngày tháng vẫn trôi. Những đứa trẻ đều lần lượt có công việc làm ăn. Bà Bích bây giờ đã quen với những thú vui mới. Ngày lại ngày bà hết hát karaoké đến chơi bài tứ sắc. Hết cuộc vui bà lại về nhà mắng mỏ ông chồng vô tích sự. Ngày nào bà Bích không may mắn thì ngày đó ông Đoan chịu đòn càng nặng. Bà cứ coi ông như nơi để tống xuất những giận hờn, những uất nghẹn. Còn ông, cứ một mực câm điếc, ù lì, nín thở qua sông.
Rồi Thuận lập gia đình. Vợ Thuận là Anh Nhi, một cô gái tương đối được cả sắc lẫn nết. Có thêm nàng dâu, không khí trong gia đình trở nên êm ả hơn. Anh Nhi tỏ ra đảm đang, lo hết mọi chuyện nội trợ. Bà Bích vừa nể mặt con dâu vừa hết lý do để nặng nhẹ với ông Đoan. Hằng ngày bà lại tiếp tục tìm thú vui hát karaoké hoặc chơi bài tứ sắc. Ông Đoan nhờ thế cũng có những ngày tạm thoải mái.
Nhưng chỉ được mấy tháng sau, vợ chồng Thuận xin ra ở riêng. Công việc trong nhà lại trở nên bừa bộn. Bà Bích lại trở chứng la hét mỗi ngày. Ông Đoan cũng trở lại thái độ lầm lì ôm đầu chịu đựng.
Một lần ghé thăm thấy ông Đoan ngồi ủ rũ, Thuận an ủi:
-Tình hình quốc tế hiện nay sáng sủa lắm ba! Ba có mong một ngày trở lại Việt Nam trong vinh quang không?
Ông Đoan lắc đầu:
-Chuyện non chuyện nước ba không dám nghĩ tới nữa. Điều ba thiết tha cầu mong nhất bây giờ chỉ là hai chữ bình an!
Ông Đoan không nói toạc ra nhưng Thuận hiểu những bầm dập của cuộc đời đã làm ông thật sự đuối sức. Ngọn đòn cuối cùng làm ông không cựa quậy nổi lại chính là do mẹ anh phát ra. Anh cảm thấy anh cũng có lỗi với ông Đoan. Phải, hai chữ bình an rất quí đối với một người lỡ vận. Thuận tự nhiên cảm hiểu rốt ráo từ trong ra ngoài hai chữ bình an. Anh xúc động nhìn ông rồi nhủ thầm:
-Thưa ba, con thông cảm ba lắm. Con phải làm một cái gì cho ba hài lòng.
*
Rồi đứa con trai đầu lòng của Thuận và Anh Nhi ra đời. Thuận quyết định lấy hai chữ Bình An để đặt tên cho đứa con.
Bé Bình An mới được ba tháng tuổi thì Anh Nhi nhận được giấy gọi đi làm. Anh Nhi mừng lắm. Cô đã từng đi xin việc trước khi lấy chồng nay mới có kết quả. Thuận sung sướng gọi phôn khoe với cha mẹ. Bà Bích nghe cũng mừng rỡ nói:
-Chúc mừng cho hai con! Thời buổi này rất nhiều người kiếm việc không ra, được như thế là tốt lắm! Anh Nhi nó có quyết định đi làm không?
-Dạ, vợ con quyết định đi làm chứ! Hiện chúng con đang lo việc kiếm chỗ nào để gởi bé Bình An.
Thời gian này bà Bích gặp vận xấu, ngồi sòng thất bại liên miên. Karaoké hoài cũng chán mà ở nhà càng chán hơn. Đây là cơ hội để bà vừa nghỉ xả xui vừa củng cố “căn bản” trên bước đường phụng sự “tứ tướng”.
-Tụi con định gởi nhà trẻ à? Mẹ đang rảnh đây, cứ bồng sang mẹ trông nom cho!
-Dạ, được như vậy thì tụi con rất yên lòng. Tụi con sẽ gởi tiền cho mẹ tiêu mà mẹ cũng đỡ mất tiền đi chơi bài nữa!
Còn gì hơn nữa! Đang túng thiếu mà, bà Bích cười giả lả:
-Mệ nội mày đó! Cứ khi nào đi làm bây cứ đem Bình An sang giao cho tao!
Thế là bà Bích cũng có một công việc như ai. Hằng tháng bà nhận của vợ chồng Thuận một số tiền tương đương số tiền gởi nhà giữ trẻ. Thằng bé Bình An thật dễ tính. Thấy ai nó cũng toét miệng cười, ai bồng cũng nó cho. Ông Đoan cũng cảm thấy vui lây khi có bé Bình An. Dù không thích gần gũi bà Bích, ông vẫn tìm cách mon men lại đùa giỡn với bé. Ông Đoan nựng nịu, bé cũng vói tay đòi ông bồng. Rồi bé biết bò biết lết. Những lúc tắm rửa, thay đồ cho bé, ông Đoan cũng phụ giúp bà Bích một tay. Những lúc cần dỗ bé ngủ, ông Đoan đem sở trường hát ru của mình ra áp dụng. Những lúc Bình An giận dỗi khóc lóc vì chuyện gì, ông chỉ cần ôm bé hát mấy câu là bé ngủ vùi. Bà Bích rất hài lòng chuyện này. Bà lại chỉ vẽ cho ông việc pha sữa, cho bú, thay tả, thay quần, rửa ráy vệ sinh cho bé phòng khi bà bận gì nhờ ông một tay. Chẳng bao lâu ông Đoan trở thành một tay giữ trẻ khá thuần thục. Bình An ngày càng tỏ ra mến thích ông Đoan hơn hẳn bà Bích. Mỗi khi hai người cùng đưa tay ớm bồng bé, nhất định bé chờm về phía ông Đoan. Bà Bích thấy thế càng mừng, cười:
-Chuyến này ông thắng tôi rồi!
Rồi bà bắt đầu thử nghiệm giao ông Đoan giữ hộ thằng bé một hai tiếng, dần dần kéo dài qua từng buổi. Thấy thằng bé mến mình, ông Đoan lúc nào cũng vui vẻ nhận nhiệm vụ. Có thì giờ rảnh, bà Bích lại đi thăm bạn karaoké, bạn tứ sắc. Lúc này trong mình bà lại rủng rỉnh đồng tiền nên máu ghiền bà lại trỗi dậy...
Thế rồi một hôm có mặt vợ chồng Thuận, bà Bích nói với ông Đoan:
-Bình An nó thích ông hơn tôi, vậy hằng ngày ông hãy giữ nó. Từ nay chuyện cơm nước, chợ búa, rác rến gì ông cứ để mặc tôi. Ông làm tròn chuyện đó tôi sẽ không nói động đến ông một tiếng!
Ông Đoan nghe bà Bích nói thế mừng rơn lên. Bà không nói động đến tôi một tiếng nữa thật ư? Đó là điều tôi từng mong ước bao lâu nay! Ông nhìn bà Bích gật đầu:
-Bà nói thật à? Cũng được. Nhớ phải giữ lời đấy nhé!
-Đúng, từ nay việc ai nấy làm, quyết không can thiệp đến nhau!
Thuận biết ý của mẹ mình, cười thú vị nói chen vào:
-Vậy tiền tụi con gởi cho ba hay gởi cho mẹ?
Bà Bích lườm Thuận:
-Ba mày còn kiêm luôn việc nội trợ sao mà đưa tiền cho ba mày? Tao có giữ tiền thì cũng để lo ăn uống cho trong nhà chứ lo cho ai?
Rồi bà quay sang ông Đoan:
-Nếu ông không đồng ý thì cứ nói. Chưa muộn!
Ông Đoan giật mình rồi gật đầu lia lịa:
-Không, tôi chịu cách chia việc như vậy. Tiền nong bà cứ giữ, tôi không xía vào!
Ông Đoan thật sự vui mừng khi nhận lãnh công việc này. Hằng ngày ông chỉ cần chuẩn bị thật đầy đủ sữa và cháo cho bé Bình An. Rồi ông chơi với bé, nghịch với bé. Ông dắt bé tập đi, ông cùng bò lết với bé, ông vờ đánh lộn với bé, ông giả khóc với bé. Khi mệt thì hai ông cháu lại ôm nhau ngủ. Thằng bé ngày càng tỏ ra lưu luyến ông thêm. Dần dần nó chỉ đeo ông Đoan chứ không muốn chơi với ai nữa. Đến nỗi chỉ có ông Đoan dỗ nó mới chịu ngủ. Ngày ông Đoan chơi với bé, đến đêm ông cũng hay mơ chơi với bé. Cứ thấy mặt bé là bao nhiêu ưu phiền trong ông tan biến. Cái vẻ thánh thiện hồn nhiên trên gương mặt bé như chiếu vào lòng ông vô vàn niềm vui. Ở bên cạnh bé, ông quên hết những nguy khốn, khổ đau trong cuộc đời chìm nổi của mình... Nhiều lúc ông say sưa ngắm nhìn bé Bình An. Ông tự hỏi nó thật sự chẳng có dính dáng chút máu huyết nào với ông mà sao nó thu hút ông đến thế? “Chà, cái tên Bình An kỳ diệu làm sao! Chỉ cần nhìn nó ta thấy ngay một nguồn không khí bình an tỏa quanh ta!”.
Chơi với bé Bình An, ông Đoan quên luôn cả việc bồi dưỡng thân xác mình. Bà Bích sáng đi tối về sớm muộn thất thường ông cũng không cần biết. Có cơm ông ăn cơm, không cơm thì một gói mì cũng xong. Dù ăn mì gói liên tiếp năm bảy bữa ông cũng không kêu. Vì ông đã thật sự tìm được niềm hạnh phúc. Ông thường tự nhủ: “Ta như con tàu lận đận trong sóng bão nhiều lắm rồi, đã đến ngày sắp rục rã. Giờ chót ghé được vào cái bến bình an thế này, được ngày nào hay ngày ấy đâu còn mong gì hơn!”
 NGÔ VIẾT TRỌNG.”

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn