NHỮNG NGÀY HỒI ĐÓ

20/03/201412:00 SA(Xem: 59065)
NHỮNG NGÀY HỒI ĐÓ
NHỮNG NGÀY HỒI ĐÓ

 Hết sức vui mừng và bất ngờ nhận một lần hai quý vật tưởng chừng như không có, không còn. Một là tấm hình chụp chung với Quang 3 Ca, Quang Bếp, Sết Cô Đơn nơi “bãi vườn Thơm” thời học giai đoạn I ở trường Bộ binh Thủ đức. Một là Sự vụ lệnh bổ dụng 235 Biên tập viên vừa “mãn khóa Đào-Tạo Biên-tập-viên ngày 28.10.1967 tại Học-Viện Cảnh-Sát Quốc-Gia” do Chuẩn tướng Nguyễn ngọc Loan ký ngày 11 tháng 11 năm 1967. Quý vật là vì, những gì “liên quan chế độ cũ”, bà má vợ đã tuồng hết xuống con kinh cầu Bông ở Tân định Sài gòn năm xửa năm xưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 rồi và chính mình thì cũng đã để hết nó lại trên những xác chết dọc đường gió bụi làm kỷ niệm mà chạy lấy thân di tản chiều ngày 23 tháng 3 năm 1975 từ Quảng đức về Lâm đồng rồi Nha trang đến Sài gòn. Không còn gì! Hết sức vui mừng là vì, tấm hình đen trắng bạn Sết gởi cho đó, bản copy Sự vụ lệnh số:1205 - TCSQG/NHNV/SVL bạn Lợi gởi cho đó, nó còn mới tinh, y nguyên, cho mình cảm giác như hiện tại, hiện thực, không phải đã dài 43 năm rồi mà vụn vỡ, mơ hồ. Tay cầm, mắt nhìn, lòng bồi hồi, nhớ những ngày thời Học viện Cảnh sát Quốc gia, National Police Academy chi lạ! Mình thấy mình rất “cô hồn” ngày đó còn bây giờ ở đây, hai chân dang ngang xấc xược trong bộ đồ trận Thủy quân Lục chiến “giang hồ tứ chiếng”, tay cầm nòng súng chống đất, lạc quan như đời thư-sinh-cành-phượng-cánh-bướm-ve sầu. Và đây, ông Nguyễn kim Hạc, Nguyễn mạnh Thúy, Huỳnh văn Tho...về Nha Cảnh sát Quốc gia Đô thành; Nguyễn văn Nghi, Nguyễn thanh Tùng, Lê sỹ Tài...về Khối Cảnh sát Đặc biệt; Vũ khắc Cảnh, Phạm đức Hoàng, Đặng văn Thử... với Nguyễn văn Sáu là tôi đây, ra Nha Cảnh sát Quốc gia Vùng I. Những năm 1965, 1966, ...người sinh viên với đời lính trước mắt, cơ hội đũng quần mài ghế nhà trường không dài, nhiều trắc trỡ. Như những người anh em bạn, làm “đàn thú hoang đói ăn, thèm mồi” trong cơn dầu sôi lửa bỏng đó, tôi nộp đơn chỗ nầy, xin việc chỗ kia, riết rồi cũng được Bộ Quốc gia Giáo dục gọi dạy Anh văn dưới tỉnh Vĩnh bình, rồi đậu khóa I Đại học Chiến tranh Chính trị, rồi lại đậu khóa II Biên tập viên Cảnh sát Quốc gia. Bỏ làm giáo sư, bỏ học Chiến tranh Chính trị, tôi vào Học viện Cảnh sát Quốc gia mà trống trơn kiến thức Biên tập viên là gì!
 Từ lớp Năm trưòng làng vào Trung học trường tỉnh đến Đại học Thủ đô, tôi phải kinh qua biết bao nhiêu phen thi với cử. Dĩ nhiên, dễ cũng có, khó cũng có nhưng, không lần nào đáng cho mình nhớ dai nhớ dài cả một đời người như kỳ thi tuyển Biên tập viên Cảnh sát Quốc gia để vào khóa II Học viện Cảnh sát Quốc gia. Tôi cả quyết, có những ông bạn tôi thi hồi đó, bây giờ không nhớ gì cả hay có nhớ thì cũng mơ hồ như ánh trăng lung linh dưới giòng nước động mà thôi. Bài bình luận ngoắc ngoéo từ ngữ Việt hán như thách đố, như trêu ngươi, “đương quan chi pháp hữu tam sự: viết thanh, viết thân, viết cần. Tri thức tam giả...”. Bài dịch ra tiếng Anh “người cày có ruộng” trời ơi đất hỡi, toàn những danh từ mà những thằng “mọt sách”, “gạo” cũng đành “au revoir”. Bài sử vắn tắt, mù mờ cơn mê hồn trận, 3 chữ ngắn, gọn mà bao la mịt mùng “Phan bội Châu”, người ta dễ không biết đâu mà mò. Bài địa “so sánh kinh tế hai miền Nam, Bắc Việt nam” như một cái bẫy cò ke ngày nhỏ tôi “sập” mấy con gà rừng ở núi Ba hòn ngoài Phan thiết. Bởi thằng nhỏ nào không biết giới hạn vấn đề thì “trớt quớt” như chơi. Hai miền Nam, Bắc Việt nam ở vào cái thời nào, trước hay sau năm 1954!? Trước 1954 thì quá cũ mà sau 1954 thì bức màn sắt. Có phải vậy không mà nơi địa điểm thi Pétrus Ký ở Sài gòn có nhiều anh em phải bỏ ra về. Còn nữa, thi thì đông, lấy thì ít. Được đậu, một đứa ít nhất phải đá giò lái cho chết hơn mười lăm đứa khắp bốn Vùng Chiến thuật. Chưa nói đến nạn “xê ô xê xê” là con ông cháu cha dành phần chia chác “quota”, làm mỏng hy vọng mấy thằng bình dân như chúng tôi. Giỏi thiệt! Làm sao ông Lê văn Miêng thủ khoa? Tôi cũng khá lắm chớ, không thì đố mà đậu được hạng 24 trong danh sách thi mấy ngàn người mà chỉ lấy chừng 150 mạng. Thằng Bùi Bình, ai nói dỡ, đã đậu trường Việt nam Hàng hải, nằm trong khuôn viên Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú thọ cũng phải chịu dự khuyết. May có thằng đậu chính thức nào đó chết tiệt, nó mới được vào học, không thì, đã theo ông Phạm ngọc Lũy lái tàu Trường Xuân của ông Trần đình Trường rồi? Thong dong vào Học viện một cách vụng về thêm chút ngỗ ngáo, tôi như đứa trẻ con mộng mị, bay nhảy bị vướng víu, ràng buộc trong một tập thể lạ hoắc lạ huơ. Những ông bạn tôi, từ “mái gianh đầu đìn” ngoài Bắc tới “con cá gô bỏ chong gổ kêu gột gột” tận trong Nam đến “khôn răng, khôn răng chi mô” nơi miền Trung rồi ngay cái đất “Thầy gòn” nầy “cái mái mai hiệu mái bai”. Rau muống, ớt, giá trộn chung thành món “xà bần” làm tôi nhức đầu. Mấy cụ Tổng đoàn Thanh niên Trừ gian, đệ tử của ông Thủ tướng 37 tuổi Nguyễn cao Kỳ thất nghiệp nghề đánh gian thương, tham nhũng về đây vênh váo ta đây người lớn, vỗ ngực xưng tên. Mấy “khứa” trẻ măng, mới rời ghế nhà trường đầu hôm sớm mơi, xớ rớ, nhát gừng, thơ ngây. Học viện, vài căn nhà trại lính nghèo nàn trong Biệt khu Thủ đô đã trộn trạo đám hổ lốn chúng tôi lại với nhau. Thầy Viện trưởng Đàm trung Mộc, hàng Giảng sư, lớp Cán bộ, ngày theo ngày, “nhào”, “nắn”, “nặn”, “dzợt” những thứ hổ lốn đó thành 2 đại đội, giao cho ông Nguyễn ngọc Thơ coi Đại đôi 101 và La văn Chung coi Đại đội 102. Tôi ở Đại đội của công tử dừa Kiến hòa Nguyễn ngọc Thơ. Một hôm những ngày đầu, thầy Viện trưởng là Quận trưởng Thượng hạng Ngoại hạng Đàm trung Mộc cho “điểm danh” để biết mặt, biết tên mà gọi cho danh chính ngôn thuận. Một ông nhỏ con ngồi kế bên, mau mắn: “Phan thành Ngọc Điệp, Chủ sự phòng...”. Tôi đứng dậy, chào một cái rụp: “Nguyễn văn Sáu”. Ông Viện trưởng từ tốn: “sếp Cảnh sát của chúng ta là Đại tá Nguyễn ngọc Loan tự Sáu Lèo. Anh, Sáu là Sáu Lèo. Cám ơn. Mời sếp Sáu Lèo ngồi xuống”. Cái tên lôi thôi “Sáu Lèo” tôi, chắc phải mang xuống tuyền đài từ đó. Ở đây, hơn nơi nào hết, không biết từ đâu bay về nhiều bí danh quá sức. Dĩ nhiên là, ông nào ông nấy cũng thành tích đầy mình lắm mới nổi tiếng chớ! Và cũng dĩ nhiên có những ông được đặt những cái tên kỳ dị, kỳ lạ đến kỳ cục, chẳng biết ý nghĩa, nguồn gốc ra răng! Một ít thôi, tôi viết ra đây chuyện xưa mà không giải thích, bởi có nói rõ ra ngọn ngành thì dài lê thê, lại mích lòng bởi ngày xưa mới vừa dứt sửa mẹ, mấy ổng còn dễ chịu, bây giờ ngày nay già khú đế, mấy ổng khó tính thấy mẹ. Có gì xin quý “Kụ” xí xóa cho: Minh Mộng Du, Nam Cà Cộ, Nê Vẽ Bản Đồ ( còn gọi là Nê Bắn Máy Bay ), Quang 3 Ca, Quang Bếp, Quang Khều, Sết Cô Đơn, Thành De Gaulle, Sơn Sửa, Tài Thương, Hạc Thối ( còn gọi là Hạc Chích ), Tâm Osawa, Thanh Bốc Khói, Thanh Cổ Cò, Thơ Khùng, ( còn gọi là Thơ Quận Trưởng ), Hạnh Commissaire Adjoint ( còn gọi là Hạnh Phó Quận Trưởng ), Chín Đen, Châu Xe Cán, Châu Đầu Bạc, Điệp Tề Thiên, Đức Fulro, Hoàng Khổng Tử, Huỳnh Tùng Lâm, Trường Tam Tạng, Lâm Babilac, Lý Tông Đơ, Lân Pháo Binh, Lộc Lạp Xưởng, Kính Xì Dầu ( còn gọi là Kính Voi ), Thành Nùng, Thuận Bình Điền ( còn gọi là Thuận Nhà Quê ), Tài Ngưu Ma Vương, Thân Hộc Máu, Vinh Thổ Huyết, Hợi Heo, Châu Đầu Bạc, Sơn Đen, Chị On, Trân Công Lộ, Viễn Vương Ngao, Nghi Già, Linh Lác, Cô Lựu,... nhiều lắm, làm sao kể cho hết. Quân trường nào cũng ác nghiệt một cách thô bỉ y hệt nhau là đầy đọa, giam cùm, giết chết “cái tôi đáng ghét”, “le moi est haisable” của Blaise Pascal cả. Ở đây tôi chỉ muốn nói đến cái riêng, rất riêng của Học viện Cảnh sát Quốc gia, nếu không muốn nói là đặc biệt của những anh em khóa II Biên tập viên Cảnh sát Quốc gia. “Nhàn cư vi bất thiện”, người ta nói đúng lắm. Những buổi chiều rảnh một chút, lóng ngóng rồi cũng rủ nhau “dzọt” ra ngoài kia con đường Lê văn Duyệt rập rình âm nhạc, dập dìu ngựa xe. Bạn bè vài đứa băng “Đường Mòn Đàm Trung Mộc” âm u, tối tăm đầy bóng ma như đang lầm lũi vào chín từng địa ngục, mắt lấm lấm lét lét, miệng lâm râm “án ma ni bát nhị hồng” rồi “úm ba la” chạy. Tôi, Quang 3 Ca, Thuận Bình Điền, Thành Nùng ‘lì lợm”, đường bệ, can trường từ bên trong Đông đức bị áp bức, leo, trèo, trườn, bò...lên “Bức Tường Bá Linh” cao cỡ 3 thước, rớt xuống ngoài kia bên Tây đức tự do, con đường độc đạo Biệt khu Thủ đô dẫn ra chốn phồn hoa. Sửa lại cái béret, sợi dây nịt, đôi giày bố, bộ treillis để thiên hạ “nhìn quân phục, biết tư cách” không chê mình thứ dân bagaille. Bốn thằng đường hoàng ra cổng, có khi anh lính gát đứng nghiêm, chào tay. Đi lòng vòng rồi cũng vào quán cháo lòng của bà mẹ cô nữ sinh Gia Long đầu đường Yên Đỗ, chọc ghẹo năm ba lời cho đời “còn một chút gì để nhớ để thương”. Chùng lén, tôi gởi cho cô con gái bả một tờ giấy nhỏ chút xíu chút xiu, viết gọn mấy chữ “em dễ thương lắm”. Ông “Hạc Chích” đúng là “Hạc Thối” không biết làm sao lại bắt được, đêm vào Đại đội tru tréo giọng hề lê thê “em.. dễ ..thương... lắm! Em..dễ.. thương.. lắm......”, làm tôi “cứng” họng nhưng chắc không “cứng” được cái thằng ba trợn Sáu Lèo. Tôi muốn bảo ổng “fermez la bouche”, “femez le pot”, câm miệng thối lại, nhưng không cần. Việc nầy, không ai nhớ, ít ai biết, tưởng cũng nên nói ra cho vui thời Học viện Cảnh sát Quốc gia. Tài liệu mật của Mỹ, 50 năm còn giải mã, huống gì chuyện mình “ba cái lẻ tẻ”. “Đi đêm, lâu ngày gặp ma” là chuyện phải xẩy ra. Mấy lần, chúng tôi những thằng giỏi nghề “bích hổ du tường”, đứa thì đang ngốc đầu lên tường, đứa thì đang lò mò trên tường, đứa thì đang giong tay cao để được kéo lên...thì ông Cò Thơ đang đứng chờ từ hồi nào ở dưới, đợi hốt mấy thằng quỷ sứ, yêu ma, tinh quái!. Có lần bị tóm mà cũng có lần chạy thoát. Những sáng thứ Bày, thường có thêm thằng Đức Fulro lập thành bọn “Ngũ Quỷ”, 3 giờ rưỡi hay 4 giờ sáng tinh mơ, trời đất lồng lộng, im phăng phắc, bọn “chằn ăn trăn quấn” nhanh như ánh sao xẹt, đột kích “Cục R” của mấy anh lính gác cổng, “chẩu” mau hơn thiên thạch bay trên Cung trời Đao lỵ. Cũng tại “ăn quen, nhịn không quen”, chúng tôi bốn đứa Sáu Lèo, Quang 3 Ca, Thuận Nhà Quê, Thành Nùng không bị bắt tại “Cục R” mà thường bị “dính” tại “Bức Tường Bá Linh” vào chạng vạng những đêm tối trời hay mưa vần gió vũ. Một lần bị cúp phép cuối tuần, lương bốn thằng mới lảnh, giao hết cho thằng Đoàn long Thể không dại đi phép, ở lại nuốt trọn lỏn tiền của mấy thằng “gà mở cửa mả” ngu như bò. Đoàn long Thể bây giờ ở đâu, trả tiền lại cho tụi tao mầy. Mầy đánh lận, đánh gian, đánh “mo”, đánh điếm? Lại còn bị ông Cò Thơ bắt tại phạm trường về tội cờ bạc. Mấy nhóc con cứ mồm loa mép giải, chối dữ lắm, chối miết. Ổng đứng bên ngoài ghi tên từng thằng, từng vị trí, tiền, bài, lời qua tiếng lại...mấy thằng bạt mạng say máu đỏ đen đâu có biết gì, hết cải. “Chạy”. Thằng sưng tay, thằng u đầu, thằng té sấp, thằng học thói Từ Hải, đứng như trời tròng bị ổng nắm cổ. Xui tận mạng! “Cà chớn” như vậy đó, ra trường thằng Huỳnh hồng Quang tức Quang 3 Ca đi Cảnh sát Dã chiến; Thằng Nguyễn văn Sáu tự Sáu Lèo là tôi ra Quảng ngãi ngoài Vùng I, thằng Huỳnh ngọc Thuận là Thuận Bình Điền ra Phú bổn ở Vùng II là công bằng lắm! Than trời thở đất với ai!? Điểm hạnh kiểm hệ số 25, không bị đá đít ra rìa là may. Tôi đến Quảng Ngãi với tụi thằng Vũ khắc Cảnh, Phạm đức Hoàng biệt danh Hoàng Khổng Tử, Đặng văn Thử là Thử Chuột và Trần hữu Hạnh là Hạnh Phó Quận Trưởng. Đất miền Trung cho người miền Trung, nhất là Huế, mình không phải người ở ngoải, “đếch” có gì mà làm. Tuổi thì già, giấy tờ thì nhỏ, ông Lê minh Phát bắt lên xe, chở vào Quang Trung cho học khóa 6/70 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức 11 tháng chơi cho bỏ ghét. Cuối năm 1971 lên làm Phụ tá Đặc biệt ở Quảng đức đến “bể dĩa”. Công cũng có, tội cũng có. Công là bắt trọn ổ Ủy ban Hành chánh và Hội đồng Nhân dân xã Đạo nghĩa hoạt động Cộng sản; Bắt 7 thằng “cán ngố” với súng AK, lựu đạn, phóng lựu B-40, radio transistor.. . định “chiếm đất giành dân” ngay sau một ngày ký Hiệp định Paris ở Nghi xuân, được Anh dũng Bội tinh của Trung tá Nguyễn hữu Thiên; Phục kích bắn hạ 2 thằng Việt cộng và rượt chạy chết cha mấy thằng bị thương, đem về 3 súng AK và “lôi xác tụi nó ra bỏ ở ngả ba Đức xuyên”, theo lệnh Đại tá Nghìn. Tội là “không hợp tác với Phối trí viên Mỹ”, “cao bồi, đánh té lên té xuống một Trung sĩ Trung tâm Hành chánh Tiếp vận” và nhất là “để cả 7 thằng tù mới bắt mấy tháng trước vượt ngục”. Trung tá Nguyễn hữu Hải đề nghị lên Thiếu tá. Ông Huỳnh thới Tây chữi “đụ má! Thằng đó chưa dzô tù là mai, còn Tá với Tướng”. Phải rồi! Cũng ở đây, một lần bị phục kìch nơi cùi chỏ ấp Nghĩa chánh, tôi nhờ số trời không chết nhưng Thiếu tá Tư, Trưởng phòng 2 Tiểu khu bị Chúa đòi về chầu sớm quá với vài anh lính bị thương nặng theo hầu. Đêm đó, vợ tôi hỏi “sao anh buồn!?” “ông Tư nầy chết một cách oan uổng, tức tưởi, vô lý bởi cái ông “Tỉnh Trưởng Một Tháng” bất tài, cố chấp là Trung tá Cao văn Chơn”, tôi trả lời. Tôi thương ông bạn Tư già còn bà xã trẻ ở Đức lập và những chiều họp trong Tiểu khu. Đầu tháng Giêng năm 1975, ông bạn đồng khóa Nguyễn văn Tư, tự là Tư Bắt Gôn, đương là Thiếu tá Chỉ huy trưởng Cảnh sát Quốc gia tỉnh Phước long dắt bầy con te tua chạy lên Gia nghĩa tỵ nạn di tản. Phước long giáp ranh phía Nam tỉnh Quảng đức đã mất. Một tỉnh đầu tiên của Việt nam Cộng hòa lọt vào tay Cộng sản Bắc việt. Sáng ngày 8 tháng 3 năm 1975, tôi qua cầu 14 trên sông Sérépok giữa hai tỉnh Darlac và Quảng Đức lần cuối. Ban mê thuột bị đánh ngay vào đêm hôm đó và bị chiếm. “Tang điền thương hải”! Ông bạn Quang, khóa I Biên tập viên, Thiếu tá Trưởng F Đặc biệt Darlac mới nói chuyện với nhau ở Trung tâm Thẩm vấn ngày hôm qua đó, bây giờ đã ra người thiên cổ? Chiến tranh! Dẫu là thằng ngỗ ngáo nhưng cũng là đứa rạt rào nội tâm, tôi không dấu được long lanh giọt nước mắt nỗi đau, nỗi buồn. Quảng đức nằm trọn lỏn tứ bề thọ địch: Tây, tỉnh Mondolkiri của Kampuchia; Bắc, tỉnh Darlac và Nam, tỉnh Phước long đã lọt vào tay Cộng sản. Đông bắc, tỉnh Tuyên đức, Đông nam, tỉnh Lâm đồng đang chộn rộn, kiếm đường chạy. Thị xã Gia nghĩa lớn không bằng một cái nghĩa địa tỉnh nhỏ đã bắt đầu xục xịch, nhúc nhích, tìm đường “tẩu vi thượng sách”. Mấy bà lớn không còn thấy ai. Ông đầu tỉnh lấm la lấm lét, biến. Mấy ông Trưởng ty nội, ngoại tòa Hành chánh tỉnh vắng tanh. Một chiều, đài BBC đọc tin “thị xã Gia nghĩa đã bị Quân đội Bắc việt tấn công” khi chúng tôi đang ngồi uống nước trà, tán gẫu trên “lô cốt” mới làm xong buổi sáng và tụi Việt cộng thì còn đang nằm ngủ trong rừng sâu thăm thẳm, xa lắc xa lơ tận đâu đâu. Ông Mục sư Hồ hiếu Hạ dắt con chiêng bán mạng chạy trốn rồi chạy về. Dân chúng ơi ới ngược xuôi dò đường chui khỏi thị xã đang cơn hấp hối. Loạn! Sáng 23 tháng 3 năm 1975, Tiểu khu và Bộ chỉ huy Cảnh sát Quốc gia đồng lòng “bỏ” Quảng đức chạy lấy thân gọi là “di tản” lúc 1giờ 30 chiều. Cái thằng “quậy” ngày xưa Sáu Lèo ở Học viện, bây giờ Đại úy, Phụ tá Đặc biệt hay Trưởng F Đặc biệt hay Chánh sở Cảnh sát Đặc biệt cũng “chạy”. Chạy xuống Lâm đồng, chạy về Nha trang, chạy vào Sài gòn và chạy vô tù gọi là “học tập cải tạo” 9 năm trong rừng, ăn ”bo bo”, “sắn duôi”, “mắm chượp”...nhìn nhau chết dần chết mòn, vẫn ngâm câu “ninh thọ tử bất ninh thọ nhục”! Suối máu, An dưỡng, Yên bái, Hoàng liên sơn, Lào cai, Vĩnh phú, Thanh hóa, tôi được thả, gọi là “ra trại” ở trại tù Z.30C Hàm tân năm 1984. Bởi thương cũng có, ghét cũng có và mình cũng đặc biệt quá, nên trong tù còn mang thêm nhiều biệt danh ngồ ngộ: “Sáu Franc” nghe lai lai Pháp quá của ông bạn Bắc kỳ, Đại úy, Luật sư Khiếu hữu Điển ở ngả ba ông Tạ tặng cho hồi còn ở trại Trung ương Số I Lào cai với cái nghĩa “Sáu Thẳng Thắng”, thời ở đội Gạch của tên cán bộ bò vàng tên Giới nghênh nghếch, ngọng nghịu. Còn “Sáu Suyễn” là Sáu cứ chán “lao động là vinh quang” thì lên cơn suyễn, cái bệnh thâm niên cố đế tưởng mấy lần đã chết ở Yên bái rồi. Và Sáu Đầu Bò, theo tên cán bộ Tuấn coi đội Lâm sản ở trại tù Thanh lâm thuộc tỉnh Thanh hóa giải thích rằng: “anh là kẻ đầu sỏ, đại bàng, đại ca, xúi giục, sách động ...” Mấy ông bà Khu phố, mấy ông bà Công an khu vực, Công an phường, Phường đội, Xã đội, Mặt trận Tổ quốc...kềm kẹp riết 8 năm trời phó thường dân đời “Ngụy”, mình không có đất sống! Mình, bạn bè mình là những đứa bị vợ bỏ, vợ khinh thường, vợ sai vặt, xóm làng chê, Việt cộng ghét, đạp xích lô, đánh xe bò, làm thuê, vác mướn, bán giấy số, bán thuốc lẻ, vá xe đạp, thổi bong bóng, bán cốc kẽng, lượm rác, mua ve chai lông vịt, mài dao kéo, lang thang cơ cầu nơi “vùng kinh tế mới” sống đời không thấy đâu bóng dáng tương lai. Đau biết là bao nhiêu! Người Việt ta thì “sau cơn mưa, trời lại sáng” có phải dịch từ tiếng Pháp “ après la pluie, le beau temps”, những ông già HO được qua Mỹ đỡ khổ, tự do, sống còn một chút ý nghĩa cuối đời?
 Hồi ký là viết lại sự thật đời mình, đời người, sự việc một cách ngay thẳng, đúng đắn, vô tình. Mấy ai bình tỉnh viết cho đúng nó như vậy là như vậy? Phần vì quá nhiều chuyện xưa không nhớ hết, phần thì trí nhớ bị đẽo gọt bởi thời gian mà mù mờ, phần vì tính “nhân chi hoạn tại hiếu vi nhân sư”( con người có cái bệnh là hay làm thầy đời ), hồi ký dễ trở thành những ngoa ngôn, huyễn hoặc, viễn vong, tếu. Bài viết nầy, tôi nhớ đâu nói đó như là mớ bòng bong gió thổi bềnh bồng còn sót lại nỗi niềm cố cựu như Saint Rémi nói “hãy đốt đi những gì ngươi tôn thờ và hãy tôn thờ những gì ngươi đã đốt đi” ( brule ce que tu sadoré et adore ce que tu as brulé ) mà thầy Lương dạy Anh văn đệ Nhất C trường Trung học Chu văn An lại thích nói tiếng Pháp, nhất là những tư tưởng của những triết gia, thi sĩ...nhắc tới nhắc lui cho tôi nhập tâm mà thuộc lòng đến bây giờ có quên được đâu. Chữ brule có dấu “^” nơi chữ u, nhưng không đánh máy được, ai cũng biết rồi, chắc chẳng bắt bẻ mà chi. Dẫu không coi như một hồi ký nhưng “cái tôi” đã để thằng tôi viết thực chừng nào hay chừng nấy, không xen vô. Đời người ngắn ngủi chừng “thất thập cổ lai hi”, đâu dễ “ba vạn sáu ngàn ngày”. Bạn bè thuở đó, người mất nằm im thin thít rã rời theo bóng trăng sao, muôn thuở cô đơn, heo hút, mịt mùng! Kẻ còn, già cả khấp kha khấp khểnh, ngậm ngùi nhớ chút dĩ vãng vàng son rong rêu như thể hoài niệm một thời đáng nhớ một đời thoáng qua bức tranh vân cẩu. Xin mượn bài thơ Ngã Tích Vị Sinh Thời của Vương phạm Chí thời Sơ Đường mà kết luận:
 “Tích ngã vị sinh thời 
 Minh minh vô sở tri
 Thiên công hốt sinh ngã
 Sinh ngã phục hà vi
 Vô y sử ngã hàn
 Vô phạn sử ngã cơ
 Hoàn nhĩ thiên sinh ngã
 Hoàn ngã vị sinh thời”./.

  NGUYỄN THỪA BÌNH
 Kansas City, Missouri

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn