CÁI GIÁ CỦA TỰ DO

27/02/20199:17 CH(Xem: 1029)
CÁI GIÁ CỦA TỰ DO

CÁI GIÁ CỦA TỰ DO
LÂM MINH SƠN
    “Mấy món ăn trong ngày giỗ Ba, con nhớ rõ lắm! Mẹ còn dặn gì nữa không?” Không chờ Mẹ trả lời, cô gái vội vã ra sân, lên xe đi chợ.
          Ngồi nhìn theo dáng nhanh nhẹn của con gái, chị Tuyết thở dài lẩm bẩm: “Mới đó mà đã hơn 30 năm rồi!…”
            ...........................
         Sàigòn, ngày N. năm 1986

    Trong căn nhà nhỏ ở vùng Tân Thuận, Tuyết ngồi ôm con, mắt nhìn ra cửa thấp thỏm chờ người hẹn với mình đến. Nhớ lại những ngày cực khổ phải bương chảy nuôi chồng đi “cải tạo”, và nỗi nhục nhã khi chồng được thả ra bị chính quyền cộng sản khinh khi chèn ép trong bất cứ công việc nào của xã hội. Tuyết thấy chồng chị có quyết định lần này là đúng, nhất là hai người đã có con được 18 tháng rồi. Vì tương lai của con, vợ chồng Tuyết phải tìm cách thoát khỏi sự kềm kẹp của chế độ cộng sản. Không biết may hay rủi, cách đây không lâu, chồng của Tuyết gặp lại người bạn thân trong tù được thả ra cho biết anh ta đang tổ chức vượt biên bằng tàu và nhờ có lo lót nên khởi hành từ Sàigòn, khỏi phải xuống các tỉnh miền Tây như những chuyến vượt biên khác. Biết hoàn cảnh của vợ chồng Tuyết, anh chỉ lấy mỗi đầu người trong gia đình 5 chỉ vàng gọi là đóng góp mà thôi. Tuy số tiền quá rẻ đối với các tổ chức vượt biên khác, nhưng vợ chổng Tuyết cũng phải vay mượn của hai bên nội ngoại mới đủ để thực hiện chuyến đi.
    Theo kế hoạch của tổ chức, việc di chuyển người vượt biên phải được xé lẻ từng người một. Giờ giấc, địa điểm khởi hành được ấn định do tổ chức và người của tổ chức sẽ đến đưa đi. Do đó chồng của Tuyết chờ ở địa điểm khác, còn Tuyết và đứa con 18 tháng phải đến chờ ở căn nhà này.
    Tuy người tổ chức là bạn thân của chồng Tuyết, nhưng lòng Tuyết vẫn lo lắng hồi hộp vì quyết định lần này là quyết định sống chết, nếu không thành công thì hai vợ chồng Tuyết không biết làm sao mà trả nợ và nuôi con được.
    Tuyết cứ hoang mang lo nghĩ đến nỗi trời sụp tối cũng không hay. Tuyết đứng dậy để đổi tay bồng con thì may quá người của tổ chức xuất hiện.
    Mừng rỡ, Tuyết định bế con ra chào hỏi thì người đàn ông đưa tay lên miệng ra dấu im lặng, rồi khẽ nói: “Cố giữ, đừng để con khóc, mang hành lý đi theo tôi.”
    Nói xong anh ta quay lưng đi ngay. Tuyết bồng con lủi thủi theo sau. Hai người đi lòng vòng qua nhiều con hẻm và mấy dãy nhà đến gần nửa đêm mới ra tới bờ sông Sài Gòn và sát bờ có một chiếc ghe máy nhỏ.
    Theo dấu hiệu của người dẫn đường, Tuyết bồng con bước xuống ghe. Sau khi yên vị, người đàn ông giật máy cho nổ, rồi hướng mũi ghe chạy ngược giòng ra cửa biển, Tuyết để con ngồi trong lòng, lấy sữa cho con bú. Khi con bú xong, Tuyết dựa đầu vào thành ghe cố ngủ. Có lẽ vì mỏi mệt và thấy mọi chuyện xảy ra đúng theo kế hoạch nên Tuyết cũng an tâm chìm vào giấc ngủ.
    Khi giật mình tỉnh dậy thì trời đã hừng sáng. Tuyết thấy trước mặt là vùng nước mênh mông nên đoán ghe đã ra tới cửa biển. Khoảng 15 phút sau, Tuyết nhận ra được hình dạng to đen của một chiếc tàu đậu ở ngoài xa. Lúc tới gần hơn, Tuyết thấy phía dưới bên hông tàu lố nhố vài ba ghe nhỏ cập sát tàu.
    Cuối cùng, ghe chở Tuyết cũng đến nơi, Tuyết mới biết là trên tàu có thả nhiều thang dây xuống nước cho người từ dưới ghe nhỏ leo lên.
    Ngày N + 2, năm 1986
    Đứng dưới ghe nhìn lên, Tuyết thấy tàu vượt biên này to lớn, dư sức đi biển nên vững bụng đeo con chặt vào người rồi từ từ bước lên thang dây. Người lái ghe cũng leo theo mang giúp hành lý lên tàu cho Tuyết rồi trở xuống.
    Thế là Tuyết đã được lên tàu theo đúng dự định. Chọn xong chỗ ngồi trên boong tàu, Tuyết bắt đầu quan sát. Xung quanh Tuyết, đã có nhiều người lên tàu trước rồi. Họ cũng ngồi trên boong cùng với hành lý gọn nhẹ như Tuyết. Rồi cứ vài phút, lại có thêm người từ dưới leo lên. Không bao lâu, Tuyết nhận ra chồng mình trong số người mới. Thấy chồng dáo dác tìm kiếm, Tuyết cất tiếng gọi: “Anh Long!” cho chồng biết chỗ của mình.
    Cuối cùng, khi không còn ghe nhỏ chở người từ bờ ra nữa, ban chỉ huy tàu gồm thuyền trưởng lái tàu và hai thanh niên phụ lái tên Kim và Cường, kiểm lại số người đi đã đủ số theo chỉ định, nên ra lệnh nhổ neo và bắt đầu cho tàu chạy ra biển lúc trời đã quá trưa. Tối đến, mọi người đều được sắp xếp chỗ nằm nghỉ an toàn. Trên tàu cũng có chứa thức ăn khô và nước uống đầy đủ cho chuyến đi.
    Vùng biển Đông Nam Á, Ngày N + 4, năm 1986
    Đúng như nhận xét của Tuyết lúc ban đầu về khả năng đi biển của tàu vượt biên, suốt ba ngày trên biển, mặc dù chở hơn 80 người cộng với hành lý, tàu vẫn chạy êm xuôi không có gì trục trặc.
    Sang ngày N + 4, thỉnh thoảng có vài tàu lạ đến gần rồi chạy qua luôn không có chuyện gì xảy ra. Đến trưa, bỗng có một tàu to gấp rưỡi tàu vượt biên chạy thẳng tới. Nhìn thấy người trên tàu này, chồng Tuyết nói nhỏ: “Không biết có phải là cướp không, nhưng anh biết chắc đây là tàu Thái Lan, vì anh hoạt động chung với quân đội Thái, nên biết rõ nét mặt và vóc dáng của chúng.”
    Trước khi đi, Tuyết đã từng nghe nhiều về chuyện hiếp dâm của bọn hải tặc nên vội vã quẹt bụi và dầu nhớt xoa lên mặt, đồng thời ôm con sát vào lòng.
    Đúng như chồng Tuyết dự đoán, chiếc tàu to này không vượt qua tàu vượt biên, mà lại kè sát vào. Khoảng bốn năm người Thái Lan nhảy qua tàu vượt biên ra lệnh cho người lái tàu tắt máy rồi kéo các dây xích sắt bên hông tàu của họ, cột cho hai hông tàu dính với nhau, sau đó họ lên đầu tàu đập phá máy rồi nhảy trở về.
    Tất cả mọi người trên tàu vượt biên đều nhốn nháo lo sợ, nhưng chẳng thấy bọn Thái Lan này làm gì, mà chỉ thấy tàu của mình bị tàu của chúng kè chạy xa ra khỏi rồi đậu lại. Khoảng hai tiếng đồng hồ sau, một chiếc tàu lớn khác có đèn sáng chạy tới cặp vào phía hông trống của tàu vượt biên, rồi liền khi đó, một đám Thái Lan có dao lẫn súng hung hăng nhảy qua.
    Trên tàu vượt biên, hầu hết mọi người đều trốn dưới hầm tàu. Riêng Tuyết vì có con nhỏ nên vẫn ở trên boong và nhìn thấy tất cả mọi chuyện xảy ra từ lúc tàu của mình bị chiếc tàu Thái Lan thứ nhất kè ra khơi.
    Đám hải tặc có tới hai tàu, một tàu chỉ huy để chở chiến lợi phẩm và một tàu chở thuộc hạ có vũ khí để đánh cướp. Mục đích của chúng là cướp của và bắt gái. Để bảo mật, chúng thủ tiêu nạn nhân một cách dã man.
    Tuyết rất nhớ rõ tên Thái Lan nắm cổ Tuyết kéo dậy trong khi Tuyết cố bồng con mình theo. Ra tới chỗ trống, hắn bẻ đầu của Tuyết quay mặt qua phía tàu chỉ huy. Tuyết nhìn thấy bên kia tàu có một tên Thái Lan đứng nhìn sang. Nó nhìn mẹ con Tuyết rồi lắc đầu. Lúc đầu Tuyết không hiểu gì, nhưng khi những phụ nữ khác bị kéo từ dưới hầm lên và đưa sang tàu chỉ huy thì Tuyết đoán ra rằng tên Thái Lan đứng bên kia là tên chỉ huy ra dấu cho biết gái nào được chọn.
    Còn chồng Tuyết thì không theo mọi người trốn dưới hầm tàu mà nằm úp mặt kế bên để Tuyết lấy mền phủ lại rồi cho con mình ngồi lên trên nên bọn cướp không thấy. Khi Tuyết được tên Thái Lan chỉ huy lắc đầu thì tên nắm cổ Tuyết thả ra cho về ngồi lại chỗ cũ. Lợi dụng bọn cướp lo kéo bắt những người từ dưới hầm lên, Tuyết bảo chồng lén vòng ra phía sau boong tàu để trốn.
    Khi chồng đi rồi, Tuyết tiếp tục quan sát những hành động của bọn cướp mà không khỏi run sợ. Tận mắt, Tuyết thấy từng người một, bị lôi dưới hầm lên, bị bọn cướp lột hết quần áo bên ngoài rồi dùng tay rà soát khắp nơi trên cơ thể nạn nhân. Sau khi thấy không còn gì nữa, chúng lôi ra thành tàu và khiêng liệng xuống biển như ném bỏ một phế vật.
    Số đàn ông trên tàu dường như không có người nào quá cao tuổi, cao lắm cũng dưới 60. Đặc biệt có một cậu bé khoảng 13 tuổi, vì quá sợ vừa khóc, vừa van xin, còn tay thì cố níu kéo bất cứ chỗ nào níu được, nhưng bọn cướp vẫn không động lòng ném gọn xuống biển. Sau cảnh tượng này, Tuyết quá kinh hãi, nhắm mắt lại không dám nhìn nữa, nhưng tai Tuyết vẫn tiếp tục nghe những tiếng lõm bõm của một vật nặng rơi xuống nước.
    Tuyết lại phải mở mắt ra khi nghe tiếng la hét của phụ nữ dưới hầm tàu. Về phía đàn bà, được kéo từ dưới hầm lên, người nào cũng bị bắt xoay người qua tàu bên kia cho tên chỉ huy chọn lựa. Người nào mà hắn gật đầu thì bị lôi tới hông tàu để chuyển sang tàu chỉ huy.
    Hầu hết số phụ nữ trẻ đều được chuyển sang, số ở lại vì xấu tuy còn trẻ cũng bị ném xuống biển, chỉ còn khoảng bảy, tám chị lớn tuổi cùng với Tuyết là người có con nhỏ được để lại ở dưới tàu vượt biên mà thôi. Có lẽ chúng nghĩ số này trước sau gì cũng chết, không cách gì tự cứu mình được khi chúng bỏ đi.
    Sự việc kể ra thì dài dòng nhưng sau này Tuyết nghĩ lại thì mọi hành động của bọn cướp diễn ra rất bài bản và có kế hoạch hẳn hoi.
    Chúng dùng hai tàu để làm ăn: tàu thứ nhất không có trang bị vũ khí và thiết kế trên boong giống như tàu buôn để đi tìm mồi, phòng khi gặp con mồi mà có tàu an ninh gần đó thì chúng không cặp sát mà chỉ theo dõi thôi. Nếu tàu an ninh có nghi ngờ chận xét, họ cũng không có lý do gì để buộc tội chúng. Còn tàu thứ hai là tàu chở đám côn đồ giết người không gớm tay, được trang bị vũ khí và có thế lực đủ để trấn áp nếu con mồi kháng cự. Tàu này cùng di chuyển với tàu thứ nhất và giữ khoảng cách làm thế nào nhanh chóng chạy tới con mồi khi được báo hiệu và cũng có thể trốn thoát mau lẹ khi kế hoạch bị lộ.
    Trường hợp bắt gặp con mồi như tàu của Tuyết tại vùng an toàn để thực hiện kế hoạch thì tàu thứ nhất sẽ cặp sát lại và chạy kè đến nơi an toàn hơn mới làm dấu hiệu cho tàu thứ hai hoàn thành các mục đích:
    - Lấy hết của cải của các nạn nhân trên tàu con mồi.
    - Bắt gái để bán cho các động điếm có làm ăn với chúng.
    - Loại bỏ mọi tang chứng kể cả việc giết người.
    Trở lại diễn biến trên tàu của Tuyết, mọi hành động của bọn cướp đều nhanh gọn và không để mất thời gian, Khi nhóm này ném người xuống biển, thì nhóm khác chuyển hành lý, vật dụng của nạn nhân qua tàu chỉ huy, và cùng lúc, các tên có máu dâm đãng thì xuống hầm để hiếp những nạn nhân mà chúng đã chọn lúc ban đầu.
    Khi không còn đối tượng để ném xuống biển và đồ đạc của nạn nhân được dọn sạch, chúng lên buồng lái đập phá thêm lần nữa, trở xuống liếc sơ các người chúng bỏ lại, rồi toàn bộ về lại tàu thứ hai và cho tàu chạy ra khơi.
    Sau khi hai tàu của bọn cướp đi khỏi, sực nhớ không thấy chồng mình và hai cậu trai phụ lái tàu Kim và Cường bị ném xuống biển, Tuyết vội bồng con đi xung quanh để tìm. Rốt cuộc Tuyết thấy quần áo của chồng ở cuối mũi tàu và quần áo của Kim, Cường ở trong buồng lái thì đoán rằng chồng mình đã bị ném xuống biển từ đuôi tàu, còn Kim, Cường bị ném từ cái cửa vuông trong buồng lái.
    Bấy giờ, trời vừa sập tối, mọi người trên tàu không ai nói với ai lời nào. Sự sợ hãi và thương tiếc khiến họ thành người vô cảm. Sự náo loạn kinh sợ trong ngày đã trở thành im lặng, chỉ còn lại tiếng sóng vỗ nhẹ vào thành tàu. Bỗng mọi người đều ngẩng đầu lên nghe ngóng vì có tiếng người vang lên từ mặt biển.
    Thì ra, tiếng gọi từ dưới biển là tiếng của anh Cường phụ lái tàu. Mọi người trên tàu đều đổ xô về phía thành tàu có tiếng kêu để nhìn xuống. Phía dưới Cường nhìn lên thấy nhiều cái đầu ló ra nên mừng rỡ, vừa đưa tay ngoắc, vừa la to: “Tôi là Cường đây, mấy người thả thang dây xuống giùm tôi mau.”
    Cuối cùng Cường cũng lên tới boong tàu và kể lại:
    “…Lần đầu khi bọn cướp lên buồng lái, tôi và Kim trốn ở hai góc buồng, chúng không để ý, chỉ lo kéo anh lái tàu ra boong tàu để ném xuống biển, nhưng lần sau khi trở lại thì gặp chúng tôi. Vì chúng tôi kháng cự, chúng không lôi ra boong được nên mở cửa vuông dưới buồng lái tàu đẩy chúng tôi xuống biển. Chúng tức giận nên khi chúng tôi rớt xuống biển rồi, chúng còn lấy các thùng dầu không ném xuống đầu chúng tôi rồi mới bỏ đi. Tôi đã lặn xuống để tránh và khi ngóc đầu lên thở, tôi thấy một thùng dầu không trôi lờ đờ trước mặt nên ôm lấy, bơi đến sát đầu tàu của mình núp, không cho hai tàu cướp thấy. Nhờ có thùng dầu, tôi khỏi cần động đậy cũng giữ cho đầu mình cao hơn mặt nước. Rồi cứ thế, một tay tôi ôm thùng dầu, một tay vịn thành tàu để giữ yên một chỗ cho đến khi bọn cướp rút đi, tôi mới kêu lên hy vọng trên tàu còn người giúp.”
    Đúng là phép lạ, nhờ có thùng dầu không mà Cường còn sống và nhờ có Cường mà số người còn lại trên tàu được thoát nạn.
    Trên tàu bây giờ chỉ có Cường là đàn ông và còn trai trẻ, nên mọi chuyện sau đó đều do Cường sắp xếp. Anh là phụ lái tàu nên rành về việc điều khiển tàu. Cường biết máy tàu đã bị đập bể không sử dụng được nên chỉ chú tâm vào việc cột và căng buồm rồi cùng mọi người kéo lên để hy vọng tàu sẽ di chuyển được nhờ sức gió.
    Đến sáng hôm sau, tàu đã di chuyển ra khỏi địa điểm bị cướp một khoảng khá xa. Thấy gió thổi từ hướng Đông Bắc, Cường mừng rỡ báo cho mọi người biết tàu không bị đẩy ra khơi nữa mà sẽ hướng về đất liền.
    Nghe Cường nói, mọi người trên tàu cũng có chút hy vọng và cố đợi chờ. May mà bọn cướp không lấy thức ăn uống trên tàu nên không ai gặp cảnh đói khát. Riêng Tuyết không còn nghĩ gì về tương lai nữa, chỉ đau khổ nhìn con rồi nhớ chồng.
    Bờ biển Mã Lai, Ngày N + 6, năm 1986
    Nhờ sức gió, chiếc tàu vượt biên tuy khá lớn nhưng cũng di chuyển được, nhưng rất chậm. Tàu xê dịch từ từ như một vật nổi thả trôi trên nước. Hình ảnh ghê rợn của bọn cướp chưa phai thì cảnh lênh đênh giữa trời nước bắt đầu khiến mọi người âu lo. Tàu trôi lờ đờ theo gió như vậy hai ngày một đêm, tức là chiều ngày N+6 năm 1986 thì khựng lại dường như mắc cạn. Mọi người đều đứng dậy, chạy lại thành tàu nhìn xem chuyện gì thì mừng rỡ la lên: “Đã thấy bờ rồi!”
    Vấn đề bây giờ là làm sao vào trong đất liền, vì tàu mắc cạn cách bờ khá xa. Nhưng Cường rất bình tĩnh, cậu ta dùng thang dây leo xuống nước, và khi chân anh chạm đáy thì mực nước chỉ ngang vai thôi. Anh ra hiệu cho từng người một leo xuống và anh dìu vào bờ. Vì có con nhỏ, nên Tuyết là người leo xuống sau cùng và nhờ Cường đội con mình trên đầu đi lần vào trong.
    Thì ra đây là bờ biển của Mã Lai. Dân địa phương biết được tàu vượt biên bị cướp, báo chính quyền biết và chính quyền địa phương tới giúp đỡ ngay. Có lẽ họ có kinh nghiệm về tàu vượt biên bị cướp nên cho tàu nhỏ ra biển chạy vòng vòng xem có người nào bị bọn cướp ném xuống biển trôi lẩn quẩn ở đây không, thì may quá họ vớt được Kim là người phụ lái tàu như Cường. Kim đã bất tỉnh rồi, nhưng hai tay vẫn ôm chặt thùng dầu không, còn nổi trên mặt nước nên tàu cấp cứu mới thấy được.
    Có lẽ Kim bị bất tỉnh không lâu, nên sau khi được thay quần áo khô, xoa bóp và sưởi ấm thí tỉnh lại ngay. Anh không bị thương ở đâu cả, chỉ có ở bên trong của hai cánh tay thì bầm tím vì anh cố ôm chặt thùng dầu không buông ra cho đến khi mất ý thức. Cuối cùng, tổng kết lại, số người còn sống sót sau vụ cướp biển là 11, trong đó có Tuyết và bé gái.
    Sau khi báo cáo lại về thời gian, địa điểm và mọi sự việc xảy ra lúc bị cướp để nhân viên an ninh điều tra truy tầm hải tặc, tất cả nạn nhân đều được đưa vào một trại lính ở địa phương tạm nghỉ ngơi, chờ quyết định của chính quyền sở tại. Hai ngày sau, họ lại được di chuyển đến trại thanh lọc Pulau Bidong là nơi có các phái đoàn Liện Hiệp Quốc phỏng vấn, mục đích cứu giúp những người Việt Nam vượt biển cố trốn khỏi cộng sản.
    Tuyết may mắn được phái đoàn Mỹ phỏng vấn và nhờ có lý lịch tốt (chồng là quân nhân, vợ là công chức của chính phủ VNCH) nên được chấp nhận vào sinh sống tại Hoa Kỳ. Đến ngày N+8 năm 1986, Tuyết và con được chở tới Phi Luật Tân chờ cơ quan bảo trợ cho người đến đưa sang Mỹ.
    HOA KỲ, Ngày N+4, Năm 2018
    “Mẹ xem lại đi, coi còn thiếu món nào không? Con đi thay đồ để phụ mẹ nấu.” Cô gái vừa nói, vừa đặt mấy túi thức ăn lên bàn.
    Chị Tuyết giật mình nhìn con, sau khi để tâm trí quay về quá khứ suốt thời gian con đi chợ. Chị cúi xuống sắp xếp thức ăn mới mua về.
    Ba mươi hai năm trước, cũng vào ngày này, chồng chị bị hải tặc ném xuống biển. Gia đình chị dù sao vẫn may mắn còn sót lại chị và con. Còn trên 70 người khác, đàn ông thì bỏ mình trên biển cả, đàn bà thì không biết phải làm gái ở phương trời nào. Cái giá của người Việt Nam đi tìm tự do thật không tưởng tược nổi. Nhưng chị cũng tự an ủi, dù sao nó cũng giúp cho mẹ con chị biết quý trọng cuộc sống tự do mình đang có, và đã phấn đấu vươn lên nơi đất lạ quê người. Bây giờ thì con gái đã tốt nghiệp đại học, còn chị thì có việc làm đàng hoàng và hưởng đầy đủ phúc lợi như những công dân Mỹ khác.
    Cuộc sống hiện tại tuy no ấm, nhưng trong lòng chị lúc nào cũng còn thấy thiếu thiếu một cái gì đó. Phải chăng là tiếng nói, con người và bầu trời của dải đất xa xôi hình chữ S: Việt Nam Dấu Yêu.
    HẬU CHUYỆN
    Theo qui luật Sinh, Lão, Bệnh, Tử, những người Việt Nam tha hương thuộc thế hệ I rồi sẽ ra đi (soon). Hiện nay, trên đất khách, thế hệ Một Rưỡi đã quá đủ tư cách thay thế thế hệ Một để dẫn dắt các thế hệ nối tiếp phấn đấu tìm lại những gì đã mất cho dân tộc.
    Đặc biệt có hai sự kiện gần đây khiến cho người VN tha hương được an ủi và hãnh diện về thế hệ Một Rưỡi của mình:
1-    Đạo luật SB-895 do TNS Janet Nguyễn đề nghị đưa lịch sử của người VNQG sau 1975 vào chương trình giáo dục cho các trường học của tiểu bang California đã được Thống đốc tiểu bang ký ban hành.
2-    Tác phẩm “RU” của nữ văn sĩ Kim Thúy, người Việt định cư tại Canada đã được đưa vào chương trình giáo dục cho các trường học của quốc gia này. Đồng thời, Kim Thúy cũng được vào chung kết của giải Nobel Văn Chương năm 2018.
    Câu chuyện cướp biển kể trên là chuyện hoàn toàn có thật, do một nạn nhân trong cuộc hiện sống cùng một thành phố với tác giả (Dallas/TX) kể lại. Tác giả ghi lại không ngoài mục đích cho con em thấy được những gian khổ hy sinh của cha ông và tự hào mình là Người VIỆT NAM dù đã có quốc tịch nước ngoài.
    Để kết thúc bài viết, tác giả xin trích lại hai đoạn của bài thơ DẠY CON đã từng đăng trên ĐS Phượng Hoàng 2005 nói về ngụ ý này:
    … Nếu ai hỏi bằng cách nào đến Mỹ
    Hãy trả lời bằng gian khổ hy sinh
    Bằng bao năm cha, chú chịu ngục hình
    Bằng trinh tiết Mẹ, Dì trao hải tặc
    Bằng biển, bằng sông bập bềnh thân xác
    Bằng cả cuộc đời thế hệ Cha, Ông
    *
    Nếu ai hỏi con nghĩ gì về Mỹ?
    Hãy trả lời là chỗ tạm dung thôi
    Tuy hôm nay con có lại nụ cười
    Nhưng đã trả bằng muôn ngàn tiếng khóc
    Dù tên con là Jane hay thằng Rock
    Con vẫn là người Mỹ gốc Việt Nam.

         Dallas, đầu Thu 2018
                LMS







Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn