MỘT ĐỜI CẢNH SÁT

19/03/201412:00 SA(Xem: 12603)
MỘT ĐỜI CẢNH SÁT
MỘT ĐỜI CẢNH SÁT
NGUYỄN VĂN PHỤ
Tôi gốc ở miền quê thuộc huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam. Lúc nhỏ tôi theo học trường làng đến hết lớp Ba; đến niên khóa 1946-1947 tôi trúng tuyển vào lớp Nhì trường tổng Mỹ Hòa. Theo học được mấy tháng thì xảy ra cuộc chiến Pháp-Việt, gia đình phải tản cư lên miền núi thuộc vùng Tí Sé, thượng nguồn sông Thu Bồn. Cuộc sống nơi đây không hạp thủy thổ khiến tất cả thành viên trong gia đình đều bị sốt rét. Qua năm 1948, cụ thân sinh của tôi qua đời, thân mẫu tôi phải đưa gia đình lui dần về vùng có đông dân cư. Đến năm 1950 gia đình mới về ở hẳn nơi làng cũ là vùng bị Pháp chiếm có lập chính quyền xã huyện.
Năm 1951, anh tôi gia nhập quân đội quốc gia được đưa ra Huế trú đóng. Chị tôi bị cộng sản khủng bố phải trốn ra Huế có dẫn theo em tôi để cho nó ra đó đi học.
Tôi ở lại quê với thân mẫu cho đến năm 1954. Khi hiệp định Genève chia đôi đất nước, anh chị tôi mới từ Huế trở về thăm gia đình. Thấy tôi đã phải nghỉ học suốt tám năm luôn luôn bên cạnh mẹ gìa trong thời buổi chiến tranh đầy hiểm nguy gian khổ, anh chị tôi đã quyết định cho tôi đi học trở lại. Vừa lúc này, dịp may đến với tôi là Trường Trung Học Chuyên Nghiệp Kỹ Thuật Huế có ra thông báo dành một số chỗ cho học sinh di cư và hồi cư. Tôi nộp hồ sơ và được trường thâu nhận vào học từ tháng 12 năm 1954, đến tháng 6 năm 1957 tốt nghiệp bằng Trung Học Chuyên Nghiệp Kỹ Thuật. Để bù lại suốt tám năm gián đoạn việc học, anh tôi khuyến khích tôi thi vào lớp đệ tam Trường Trung Học Kỹ Thuật Cao Thắng Saigon niên khóa 1957-1958. Tháng 6 năm 1960 tôi thi lấy bằng Tú tài II Kỹ Thuật.
Vào thời gian này, anh tôi đã được thuyên chuyển vào Cần Thơ, chị tôi theo chồng vào sống ở Sài Gòn, em tôi cũng vào học ở Sài Gòn; nên tôi phải về kiếm việc làm ở Đà Nẵng hay Huế để có thể đi lại tới lui với thân mẫu tôi nơi quê nhà, chứ người không chịu đi theo sống với con ở nơi khác.
Trong lúc chờ đợi xin được việc làm ổn định, tôi xin vào dạy giờ tại Trường Trung Học Chuyên Nghiệp Kỹ Thuật Huế về những môn kỹ thuật. Sau đó, được biết ngành cảnh sát đang cần tuyển dụng những người có bằng Tú tài II để điền khuyết cho những viên chức đã nghỉ hưu hay đã chết, tôi đã có ý định nộp đơn xin dự tuyển. Tôi đến xin yết kiến ông Giám Đốc Nha Cảnh Sát Công An Miền Bắc Trung Nguyên Trung Phần (sau cải danh thành Nha Cảnh Sát Quốc Gia Miến Bắc Trung Nguyên Trung Phần, và sau cùng là Bộ Chỉ Huy CSQG Khu I) trình bày về hoàn cảnh và nguyện vọng của tôi. Thế rồi kể từ đầu tháng 4 năm 1962, tôi chính thức được tuyển dụng làm Biên Tập Viên công nhựt, làm việc tại phòng chuyên môn thuộc Nha CSQG, phụ trách về điều tra hành chánh những viên chức và sĩ quan quân đội chuẩn bị đi tu nghiệp hay thụ huấn ở nước ngoài.
Qua đầu năm 1963, tôi được gởi vào Trung Tâm Huấn Luyện CSQG Rạch Dừa Vũng Tàu để tham dự Khóa Huấn Luyện Căn Bản CSQG cùng với gần 200 BTV tân tuyển theo chủ trương trẻ trung hóa cấp sĩ quan ngành CSQG có bằng Tú tài II hay cao hơn. Sau ba tháng mãn khóa, chúng tôi lại được theo học tiếp Khóa Cán Bộ Ấp Chiến Lược – Chiêu Hồi trung ương tại Suối Lồ-Ồ Biên Hòa trong hai tuần lễ.
Sau các khóa huấn luyện nói trên, chúng tôi đã được chia làm nhiều toán, mỗi toán 12 người, đi thực tập tại các Nha và Ty CSQG địa phương từ Quảng Trị đến Ba Xuyên để giúp chúng tôi có thêm kinh nghiệm về chuyên môn cũng như công việc điều hành, tổ chức. Hết thời gian thực tập, chúng tôi trở về lại trung ương. Tại đây, chúng tôi lại được chia làm hai; một nửa theo học khóa Huấn Luyện Trung Cấp tại TTHL Trung Cấp tại Saigon, còn một nửa cũng chia thành nhiều toán nhỏ thực tập tại các Phòng, Sở thuộc Tổng Nha CSQG và các Ty CSQG trực thuộc Nha CSQG Đô Thành. Việc huấn luyện và thực tập như vậy được luân phiên giữa hai nhóm xong mới hoàn tất chương trình huấn luyện.
Đến cuối năm 1963, anh em chúng tôi mới hoàn tất khóa học và được phân phối đi phục vụ tại các đơn vị.
Tôi cùng bốn bạn khác nhận Sự Vụ Lệnh trình diện Nha CSQG Miền Đông ở Biên Hòa. Tôi được phân công về Phòng CSĐB phụ trách ban kế hoạch chuyên làm bản tin tức và đúc kết báo cáo tin tức hàng tuần, hàng tháng về tình hình an ninh lãnh thổ thuộc quản hạt của Nha Miền Đông.
Qua giữa năm 1964, tôi được cử làm Trưởng Chi CSQG Định Quán, tỉnh Long Khánh. Đầu năm 1965, tôi phải xin về lại Nha CSQG Miền Đông vì an ninh cá nhân bị đe dọa bởi nhóm người khai thác gỗ lậu có liên hệ với trung tá tỉnh trưởng Long Khánh.
Về Nha Miền Đông được một thời gian ngắn, tôi được gởi đi học khóa tu nghiệp tại TTHL Trung Cấp ở Sài Gòn. Mãn khóa tu nghiệp, nhờ kết qủa bài thi trắc nghiệm về tình báo, tôi cùng một số bạn khác được học tiếp khóa cán bộ điều khiển. Sau khóa học, tùy theo kết qủa cao thấp, các anh em được phép tự chọn đơn vị phục vụ.
Do nhu cầu an ninh ở Đô Thành, kể từ năm 1965, các phòng CSĐB được thành lập ở các ty CSQG Quận/Đô Thành, và các ty Không Cảng và Hải Cảng. Vì là những đơn vị mới thành lập nên Phòng CSĐB nào cũng gặp trở ngại là phòng ốc chật hẹp, thiếu thốn đủ thứ; còn về nhân sự thì phần lớn là số cảnh sát sắc phục chuyển sang chưa được huấn luyện về chuyên môn tình báo. Đó là chưa kể không có phòng, ban nào chịu san sẻ cho những nhân viên có năng lực làm việc.
Trong tình huống chung đó, tôi được về Phòng CSĐB Quận Ba cũng bắt đầu từ con số không. Nhưng lần lần tiếp nhận nhân viên mới, tôi đã thường xuyên hướng dẫn cho từng bộ phận, từng cá nhân về những công việc phải làm. Dần dần, công việc tổ chức và điều hành cũng tạm ổn định và thu đạt được một số kết qủa rất đáng khích lệ.
Tại Quận Ba, nhờ mạng lưới thông tín viên hoạt động bên ngoài, chúng tôi đã phát hiện được một cán bộ trí vận được cộng sản bố trí về mướn nhà ở phường Cư Xá Đô Thành, dẫn đến một đầu mối công tác của Phòng CSĐB.
Nguồn thông tín viên báo cho biết, có ba thanh niên từ miền quê ở Cần Giuộc mới đến mướn căn nhà lụp xụp phía sau chợ Trương Minh Giảng, sát Rạch Nhiêu Lộc. Hàng ngày, nhân viên bám theo thấy chúng không có việc làm, đi về thất thường, lại thường hay theo dõi đến những nơi ở của những người Mỹ. Nhờ vậy, nên khi chúng ra tay ám sát một người Mỹ trên đường Trương Minh Ký gần Nhà Thờ Ba Chuông, nhân viên theo dõi đã kịp thời can thiệp bắt giữ được một tên trong bọn. Được thông báo về sự việc vừa xảy ra, ngay lập tức tôi đã điều động nhân viên làm “rọ” quanh căn nhà chúng mướn sau chợ Trương Minh Giảng bắt trọn hai tên còn lại, trong đó có một tên tổ trưởng, tịch thu được một khẩu súng K54 và hai qủa lựu đạn. Chúng khai chúng thuộc đơn vị đặc công thành.
Đến khoảng giữa năm 1966, hoạt động của Phòng CSĐB quận Ba coi như đang nóng máy, toàn thể nhân viên đều tỏ ra năng nổ hoạt động để lập thành tích công tác thì xảy ra biến động chính trị. Nhiều cuộc biểu tình chống chính quyền do Phật giáo khởi xướng mà người chủ trương là Thượng Tọa Thích Trí Quang. Phong trào biểu tình cũng lan ra Đà Nẵng và Huế. Tại Sài Gòn, các Quận 1, 2, 3 chịu ảnh hưởng nặng nề, khiến hoạt động của ngành CSĐB phải hướng trọng tâm về an ninh nội chính. Các cuộc biểu tình sau đó đã dẫn đến bạo động. Một số cây xanh dọc đường phố bị các người biểu tình đốn hạ, đốt các lốp xe hơi để cản trở lưu thông, và mang bàn thờ Phật xuống đường. Có những toán thanh niên nam nữ kích động kêu gọi bãi thị, đình công,v.v…
Cảnh Sát Dã Chiến đến giải tán biểu tình đã bị ném đá và bom xăng. Khi đám biểu tình lui vào khu chợ Vườn Chuối, giới hạn bởi các đường Lê văn Duyệt, Phan Đình Phùng, Vườn Chuối và Phan Thanh Giản, nhờ sẵn có đá trên đường xe lửa, CSDC đã bị đám biểu tình ném đá tới tấp không tiến vào được và cũng không thể sử dụng lựu đạn cay vì sợ gây nguy hiểm cho trẻ em. Bà con trong khu vực cũng ta thán vì bị khó khăn trở ngại trong việc đi lại, làm ăn buôn bán. Nhằm giải quyết tình trạng này, tôi tổ chức một cuộc đột kích sử dụng 30 cảnh sát viên mặc thường phục trang bị mỗi người một cái còi và một roi mây dài 1m20, chia làm 10 tổ, mỗi tổ 3 người, bố trí theo sơ đồ khu vực. Nhờ cúp điện, mỗi tổ cứ âm thầm đến địa điểm chỉ định. Khi tổ đi xa nhất đến ngã ba Phan Đình Phùng/Vườn Chuối thì nổi còi, tức thì chin tổ kia cũng thổi còi theo và thẳng tay sử dụng roi mây. Bị tấn công bất ngờ, đám biểu tình hoảng hốt chạy tán loạn. Cảnh sát sắc phục dễ dàng cho xe lại dọn dẹp bàn thờ và các vật dụng liên hệ.
Cũng trong thời gian này, một thanh niên trong đám biểu tình dùng súng bắn chết một cảnh sát sắc phục quận Ba, rồi trốn vào Viện Hóa Đạo ở đường Trần Quốc Toản. Việc vào Viện Hóa Đạo để bắt giữ can phạm là một việc khá tế nhị nên Nha CSQG Đô Thành đã chủ động điều động lực lượng cảnh sát xâm nhập Viện Hóa Đạo lục xét, kết qủa đã bắt được can phạm tên Chẩn (vì đã lâu nên không còn nhớ họ) đã cải trang thành một nhà sư đầu cạo trọc mặc áo cà sa, đồng thời tịch thu được một số tài liệu liên quan đến việc sách động biểu tình chống chính quyền. Nhờ bắt được tên Chẩn đội lốt nhà sư và những tài liệu tịch thu được nên phong trào biểu tình mới bị dẹp yên.
Một lần khác, báo cáo tình báo ghi nhận, một căn nhà ở xa lộ thuộc quận Thủ Đức có oa trữ một số mặt hàng có lợi ích quân sự. Tôi làm phiếu trình được ông Trưởng ty CSQG Quận Ba phê thi hành, nhưng căn nhà lại nằm ngoài lãnh thổ quản hạt của quận Ba, nên tôi phải làm văn thư xin lệnh Biện Lý. Kết qủa cuộc khám xét tịch thu được 7 cái bọc nòng súng cà-nông, 2 thùng thiếc các bộ phận rời máy bay trực thăng, 7 thùng phuy loại 200 lít dầu gasoline. Công việc điều tra đang tiến hành thì Đại Tá Phó Tổng Giám Đốc Cảnh Sát điện thoại cho ông Trưởng Ty cho rằng tôi đã làm sai pháp luật, bảo tôi phải đến trình diện Đại tá Phó TGĐ để ông ta nhốt kỷ luật. Tôi thưa với ông Trưởng Ty rằng tùy ông trả lời thế nào với Đại tá Phó TGĐ, còn riêng tôi sẽ không đi trình diện Đại tá Phó TGĐ. Tôi nói, tôi làm đúng theo thủ tục hành chánh, thi hành bút phê của Trưởng Ty và được lệnh của Biện Lý theo đúng thủ tục về tư pháp, không có gì sai phạm. Đại tá Phó TGĐ chỉ thị cho ông Trưởng Ty hai lần nữa, nhưng tôi vẫn trả lời dứt khoát là tôi không có lỗi lầm gì để phải đi trình diện cấp trên để bị kỷ luật. Ông Trưởng Ty đã nói với tôi: “Tôi cũng là dân Quảng Nam cứng đầu như anh, nhưng việc này anh cứng qúa làm tôi rất khó xử. Thôi thì theo ý cấp trên, anh chuyển hồ sơ nội vụ qua cho Phòng Cảnh Sát Tư Pháp thụ lý cho yên chuyện.”
Theo thông lệ mỗi cuối năm, Tổng Nha CSQG phổ biến văn thư ấn định chỉ tiêu khen thưởng huy chương cho các đơn vị trên toàn quốc lập được nhiều thành tích. Ty CSQG Quận Ba được dành cho 3 huy chương. Theo đề nghị của ông Trưởng Ty, tôi là một trong ba người được đề nghị khen thưởng; nhưng tôi đề nghị nên thưởng cho hai nhân viên đã can đảm không sợ hiểm nguy nhào ra bắt giữ được một trong ba tên đặc công đã dùng súng bắn một người Mỹ, và người thứ ba là trưởng ban thẩm vấn đã khéo léo khai thác ba tên đặc công để tịch thu được 1 súng K-54 và 2 qủa lựu đạn, chứ khi sự việc xảy ra tôi đang ngủ tại nhà đâu có công trạng gì. Tôi giải thích, khi nhân viên làm việc hữu hiệu thì cấp chỉ huy có uy tín; không thể lấy công của người này gán cho người khác vì sẽ tạo ra bất mãn khó làm việc.
Lời phát biểu này làm phật ý ông Trưởng Ty, cộng với việc tôi không đi trình diện Đại Tá Phó TGĐ nên hậu qủa tôi phải rời khỏi Ty CSQG Quận Ba về văn phòng Phụ Tá Chủ sự Phòng Cảnh Sát Tư Pháp, Nha CSQG Đô Thành.
Với tư cách sĩ quan tư pháp cảnh lại hữu thệ, tôi thường thay mặt ông chủ sự đi lập biên bản những vụ vi phạm pháp luật khắp chín quận đô thành, cùng đi với tôi thường có thẩm vấn viên và nhiếp ảnh viên. Mỗi biên bản tôi đều kèm theo một xấp hình chụp tại hiện trường khiến người vi phạm không thể chối cãi khi bị lấy cung hay phản cung trước tòa, đồng thời cũng bảo đảm sự an toàn cho tôi trong trường hợp bị thưa gởi khiếu nại về sau.
Có một lần, chúng tôi bắt một sòng bạc ăn thua lớn tại một căn phố lầu gần chợ Cầu Ông Lãnh, trong số các con bạc có mấy vị dân biểu, họ đã gọi điện thoại tố cáo với ông Giám Đốc là tôi tịch thu cả tiền túi của họ. Tôi phải trình ông Giám Đốc xem xấp hình nhiếp ảnh viên đã chụp tại chiếu bạc, mỗi con bạc tự đếm lấy số tiền ngay trước mặt mỗi người theo từng loại giấy bạc và chính mỗi con bạc ký tên xác nhận trong biên bản. Trong hình còn cho thấy không con bạc nào mặc áo quần đàng hoàng, chỉ có áo quần lót, có người ở trần.
Cuối năm 1968, tôi nhận sự vụ lệnh sang làm Trưởng Phòng Hoạt Vụ quận Chín, đến giữa năm 1969 lại kiêm xử lý thường vụ Phòng CSĐB. Lãnh thổ quận Chín nguyên là xã An Khánh thuộc quận Thủ Đức, dân cư thưa thớt, sinh hoạt theo nề nếp thôn xã nên dễ kiểm soát, nhân viên CSĐB phụ trách khu vực nắm vững tình hình dân số, nên dầu có cộng sản nằm vùng cũng không dám hoạt động. Dân quân tự vệ hoạt động rất hữu hiệu, mỗi khi có người lạ vào phường khóm là bị phát hiện ngay. Ngày nọ, họ bắt đưa về đặc khu 9 một nữ trung niên không có giấy tờ tùy thân. Đặc Khu 9 giao qua Phòng CSĐB, qua tiếp xúc sơ khởi, thẩm vấn viên nhận xét, người phụ nữ này có vẻ thất thường, nên tôi đã gởi đương sự qua khu tâm thần bệnh viện Chợ Quán. Hai tuần sau, tôi làm phiếu đề nghị trả tự do cho đương sự kèm theo giấy chứng nhận của bệnh viện Chợ Quán. Nhưng, ông Trưởng Ty (một đại úy Biệt Động Quân biệt phái) không chịu ký lệnh tha lại còn dùng lời lẽ thô tục xỉ vả tôi không biết dùng vũ lực khai thác và nói ông sẵn sàng chịu trách nhiệm nếu có chuyện gì xảy ra. Sau đó, chính ông Trưởng Ty này đã điều khiển hai cận vệ để khai thác người phụ nữ đó theo cách của ông. Tôi phải mang hồ sơ về trình bên Nha Đô Thành nhờ can thiệp, trưởng ty mới chịu tha người phụ nữ này.
Sau vụ này, tôi xin đi khỏi quận Chín, được ông Giám Đốc Nha chấp thuận cho về quận Mười làm Phụ tá Trưởng Phòng Hoạt Vụ. Một thời gian sau, anh trưởng phòng đi nhận nhiệm vụ khác, tôi đảm nhận chức vụ trưởng phòng sau cải danh thành Chủ Sự Phòng Hành Quân.
Dân cư quận 10 đông đúc, sinh hoạt phức tạp, có những khu ổ chuột như khu chợ Hòa Hưng, khu Chuồng Bò gần Ngã Bảy, khu Vườn Lài đường Vĩnh Viễn là những khu vực có thành phần du đảng, cướp giựt, xì ke ma túy, đĩ điếm. Hoạt động duy trì an ninh trật tự ngày đêm của cảnh sát khá bận rộn. Bên cạnh đó, lại có những biến động về an ninh nội chính thỉnh thoảng lại xảy ra, như sự cấu kết giữa linh mục Chân Tín, ni sư Huỳnh Liên, và bà Ngô Bá Thành thường hẹn nhau đến khu vực Viện Hóa Đạo và trụ sở Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự Bốn Bên trên đường Trần Quốc Toản để biểu tình đòi hòa bình, chống tham nhũng. Nhiều khi cảnh sát quận 10 (cả thường phục lẫn sắc phục) phải ăn cơm “tay cầm” trực suốt ngày để theo dõi ngăn chặn kịp thời không cho người của họ tụ tập lại. Trong khi đó, phe Phật giáo Chùa Ấn Quang cũng thường tụ tập sách động xuống đường, nhưng họ bị cảnh sát quận 10 cô lập bằng cách khóa chặt đầu đường Lý Thái Tổ/Sư Vạn Hạnh và Vĩnh Viễn/Sư Vạn Hạnh, khiến họ không còn lối đi nào khác để thoát ra được.
Nhớ lại thời gian thụ huấn cũng như tu nghiệp, giảng viên có dạy về khoa giải tán biểu tình trấn áp bạo động, nhưng thực tế có nhiều trường hợp không thể áp dụng theo nguyên tắc được, mà phải linh động ứng dụng phương cách đối phó sao cho hữu hiệu.
Vào năm 1973, phong trào chống đối TT Thiệu độc diễn xảy ra, chúng tôi đã mất nhiều thời gian để đối phó với đám biểu tình bằng xe gắn máy của nhóm sinh viên đại học xá Minh Mạng. Đại học xá nằm trong lãnh thổ quận 5, nhưng khi xuất phát họ túa ra đường Minh Mạng, xuống Ngã Bảy, chạy theo đường Phan Thanh Giản hoặc Lý Thái Tổ hướng ra trung tâm Sài Gòn. Nếu chúng tôi không ngăn chặn kịp thời là bị cấp trên khiển trách, hăm nhốt kỷ luật. Trong lúc Tổng Nha có Sở Kế Hoạch của Khối Hành Quân và Nha CSQG Đô Thành có Phòng Kế Hoạch, nhưng không một nơi nào hướng dẫn cho cảnh sát quận 10 biện pháp đối phó hữu hiệu. Hành động của nhóm sinh viên biểu tình đối với cảnh sát quận 10 chẳng khác chi trò chơi mèo chuột. Khi họ chạy xe ra đến công trường Ngã Sáu bị cảnh sát ngăn chặn, họ quay về đại học xá; một hai giờ sau họ xuất hiện trở lại. Cứ như vậy, một ngày mấy lần.
Điên đầu với nhóm sinh viên này, đồng thời không khỏi khổ tâm vì những lời đe nẹt của cấp trên, ông chỉ huy trưởng chấp thuận kế hoạch cho tôi điều động 5 ông Trưởng Cuộc và hai ông Chủ Sự Phòng làm trưởng xa, sử dụng 7 chiếc xe jeep với 2 cảnh sát viên ngồi phía sau, tất cả đều trang bị roi mây dài 1m20. Khi đoàn xe gắn máy của sinh viên chạy trên đường Minh Mạng đến Vĩnh Viễn bị bán tiểu đội cảnh sát ở đây kéo dây kẽm gai và ném vài trái lựu đạn cay, họ phải tháo lui. Khi họ đến ngã tư Minh Mạng – Hòa Hảo thì tiểu đội cảnh sát phục ở đây đổ nhớt xe phế thải ra khiến đoàn xe của sinh viên té nhào lại còn bị đánh bằng roi mây. Họ chạy về đại học xá thì đường đã bị khóa và cả đường Nguyễn Viết Thanh hướng về trung tâm thành phố cũng bị khóa, họ chỉ còn có thể chạy trên đường Nguyễn Viết Thanh hướng về phía Phú Lâm. Hướng này họ bị xe jeep của 5 ông trưởng cuộc và 2 ông chủ sự bố trí ở các giao lộ dùng roi mây rượt đuổi tấn công tới tấp khiến họ thất kinh chạy tán loạn đến tận Phú Lâm vẫn chưa thoát khỏi roi mây của cảnh sát.
Nhờ vậy mà cuộc biểu tình bằng xe gắn máy đã không còn tái diễn. Nhưng báo hại, sau khi hết biểu tình, cảnh sát phải dùng mạt cưa để dọn dẹp làm sạch những đoạn đường đã đổ nhớt.
Đầu năm 1975, tôi được cử đi học khóa tham mưu cao cấp tại Trường Bộ Binh Long Thành (hậu thân của Trường Bộ Binh Thủ Đức). Cùng tham dự khóa học này còn có 5 thiếu tá cảnh sát khác và trung tá Trần Quang Nam. Khóa học chưa xong thì Miền Nam đã mất và quãng đời cảnh sát của tôi cũng chấm dứt theo mệnh nước từ ngày đó.
NGUYỄN VĂN PHỤ


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn