Tết Mậu Thân 1968,

17/03/200912:00 SA(Xem: 65087)
Tết Mậu Thân 1968,

TẾT MẬU THÂN 1968
MỘT BƯỚC NGOẶT LỊCH SỬ

TOÀN NHƯ

      Cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc trên ba mươi năm. Một trong những nguyên nhân đưa đến sự thất bại của cuộc chiến mà người ta thường nói tới là sự thiếu thiện cảm của giới truyền thông Mỹ đối với cuộc chiến này. Những tin tức bất lợi cho phe đồng minh thì lại được chú trọng thổi phồng, trong khi những tin tức có lợi cho phe địch thì lại được khai thác đề cao. Chẳng hạn như, truyền thông Mỹ không nói gì về cuộc thảm sát Tết Mậu Thân trong đó hàng ngàn sĩ quan, binh lính, công chức và thường dân ở Huế đã bị giết hoặc bị chôn sống bởi những người cộng sản; nhưng lại làm rùm beng việc một quân nhân Mỹ vô kỷ luật đã tàn sát các dân làng ở làng Mỹ Lai, tỉnh Quảng Ngãi trong cùng thời gian này.
      Tuy nhiên, nếu đổ hết lỗi cho truyền thông Mỹ thì cũng không công bằng vì sự thất bại của cuộc chiến ấy còn bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác. Nhiều nhà nghiên cứu cuộc chiến Việt Nam trong đó có Harry G. Summers, Jr., một sĩ quan của quân lực Hoa Kỳ, đã đưa ra kết luận rằng, chính sự thất bại đã bắt đầu từ nơi thượng tầng của sự lãnh đạo quốc gia Hoa Kỳ, bao gồm từ tổng thống Mỹ đến tổng trưởng quốc phòng và Ban Tham Mưu Hỗn Hợp.
      Harrry G. Summers, Jr. (1932-1999) nguyên là Đại Tá Trưởng Phái Đoàn Hoa Kỳ trong Ủy Ban Quân Sự Liên Hợp 4 Bên sau Hiệp Định Paris về Việt Nam năm 1973. Ông từng hai lần bị thương trên chiến trường Việt Nam. Sau khi giải ngũ vào năm 1985, vốn là người có nhiều kinh nghiệm và có nhiều thiện cảm với Việt Nam, ông đã cùng một số cựu chiến binh đã tham chiến tại Việt Nam sáng lập ra tạp chí VIETNAM, một tạp chí chuyên đề về chiến tranh Việt Nam, xuất bản mỗi hai tháng một lần kể từ năm 1988 cho đến nay. Ngoài ra, ông cũng còn từng là bỉnh bút cho tờ nhật báo L.A. Times, một nhất báo lớn có số phát hành hàng triệu ấn bản mỗi ngày; và trong cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất năm 1991, ông phụ trách phần phân tích quân sự cho đài truyền hình NBC. Ông cũng là tác gỉa của nhiều sách viết về chiến tranh Việt Nam và cuộc chiến vùng Vịnh. Như: On Strategy: A Critical Analysis of the Vietnam War; On Strategy II: A Critical Analysis of the Gulf War; Vietnam War Almanac; Persian Gulf War Almanac; Historical Atlas of the Vietnam War. Ông từ trần vì bệnh tai biến mạch máu não và bệnh tiểu đường năm 1999, hưởng thọ 67 tuổi.
      Trong một bài viết trên trang nhà TheHistory.net, được in lại trong Vietnam Magazine (số đặc biệt kỷ niệm 40 năm biến cố Tết Mậu Thân 1968-2008) có tựa đề “TURNING POINT OF THE WAR” viết về cuộc tấn công Tết Mậu Thân, tác gỉa Harry G. Summers, Jr. đã cho rằng biến cố Tết Mậu Thân là một bước ngoặt trong cuộc chiến: Mặc dù Hoa Kỳ và đồng minh VNCH đã chiến thắng trận chiến này nhưng chiến thắng đó đã bị bỏ lỡ một cách đáng tiếc. (xin trích - dịch)

“Một trong những sự bí ẩn của cuộc chiến Việt Nam là vì sao chiến thắng quân sự của đồng minh trong biến cố Tết Mậu Thân (MT) 1968, một chiến thắng gần như toàn diện đến nỗi trong những năm còn lại của chiến tranh các du kích Việt Cộng đã không còn đóng một vai trò nổi bật, thế mà sau cùng lại mang đến một sự thất bại về chính trị cho Hoa Kỳ. Câu trả lời thường tất cả đều đổ lỗi cho giới truyền thông. Nhưng còn những lý do khác hơn thế.
      Trong khi truyền thông đã đóng một vai trò không chối cãi, câu trả lời thực ra còn nằm ở sự sụp đổ nơi thượng tầng của sự lãnh đạo quốc gia, bao gồm từ tổng thống, tới tổng trưởng quốc phòng và Ban Tham Mưu Hỗn Hợp (Joint Chiefs of Staff).
Peter Braestrup trong cuốn Big Story (NXB Yale University Press, 1983), đã trình bày quan điểm của ông về sự kiện Tết (MT) như sau: “Điều đáng chú ý – và quan trọng – là thái độ của Tòa Bạch Ốc trong Tháng Hai và Tháng Ba năm 1968 đã đối phó như thế nào. Hồi tưởng lại, người ta có cảm tưởng Tổng Thống Johnson dường như đã bị đánh bại về mặt tâm lý bởi sự tấn công vào những thành phố ở Việt Nam.”
Sự nhận xét đó có phần mới mẻ. So sánh với những trận chiến trước đó của Mỹ, cuộc tấn công Tết MT 1968 của VC và quân Bắc Việt có phần dễ trị hơn. Chỉ riêng trong thế kỷ này (thế kỷ 20, vì bài viết này của Harry G. Summers, Jr. viết trước khi ông qua đời vào năm 1999 - Ghi chú của người dịch), cuộc tấn công gây thiệt hại nặng bất ngờ của Nhật vào Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) trong năm 1941 đã làm Hoa Kỳ tổn thất gần như toàn bộ Hạm Đội Thái Bình Dương; hay như cuộc tấn công táo bạo của Đức trong trận Bulge năm 1944 đã khiến cho lực lượng tiền phương của Đồng Minh phải dừng lại và hai trung đoàn của sư đoàn 106 Bộ Binh Hoa Kỳ phải đầu hàng kẻ địch; hay như sự thất bại lúc đầu ở Triều Tiên vào tháng 7 năm 1950, nơi mà vị tướng chỉ huy sư đoàn 24 BB bị bắt và toàn bộ một phần mười Quân Đoàn 8 Hoa Kỳ bị tổn thất và bị đẩy lùi vào chu vi vùng Pusan; và sự đáng chú ý nhất là sự can thiệp của các lực lượng Trung Cộng vào tháng 11 năm 1950 đã tạo ra những sự thương vong khủng khiếp và kéo Quân Đoàn 8 và Binh Đoàn 10 ra khỏi Bắc Triều Tiên.
Trong mỗi trường hợp, những bài tường thuật tin tức của truyền thông lúc đầu cũng đầy những dự đoán bi quan về sự thiệt hại và thất bại. Cho nên vụ Tết MT 1968 cũng không phải là một ngoại lệ. Nhưng trước đây những báo cáo này đã được đối chiếu bởi những bản tường trình của chính phủ cho biết tình hình đã được kiểm soát và mọi việc không qúa tệ như người ta tưởng và rằng chúng ta sẽ mau chóng đạt được chiến thắng.”

      Cũng trong bài báo này, tác gỉa Harry G. Summers, Jr. đã so sánh tổng thống Lyndon B. Johnson với những vị tổng thống tiền nhiệm như Roosevelt và Truman. Johnson đã không có sự quyết tâm chiến thắng như hai vị tiền nhiệm kể trên. Ngược lại, cuộc tấn công Tết Mậu Thân của cộng sản đã gây cho ông một cuộc khủng hoảng tâm lý nghiêm trọng. Hơn nữa, vào thời điểm đó, Johnson đang dồn mọi nỗ lực vào chương trình cải cách xã hội mà ông gọi là chương trình “Đại Xã Hội”. Ông không muốn chiến tranh làm ảnh hưởng đến chương trình cải tổ này.
      Nhưng sự thất bại không chỉ bởi một mình tổng thống Lyndon B. Johnson, mà nó còn bắt nguồn từ bộ tham mưu của ông bao gồm từ ông bộ trưởng quốc phòng đến vị tướng chủ tịch Ban Tham Mưu Hỗn Hợp. Thêm nữa, năm 1947, với Đạo Luật An Ninh Quốc Gia, Hoa Kỳ mới lập ra Bộ Quốc Phòng và đến năm 1958, Đạo Luật Cải Tổ Quốc Phòng ra đời thay đổi cách điều hành guồng máy quân sự đã từng có hiệu qủa trước đó trong Đệ II Thế Chiến và Chiến Tranh Triều Tiên. Chính sự cải tổ không hợp lý này cũng góp phần quan trọng vào việc đưa đến sự thất bại, như Harry viết: (trích)

       “Sau Tết MT 1968, thay vì động viên cả nước, như Franklin Delano Roosevelt đã làm sau vụ Trân Châu Cảng và trận Bulge, hay cũng như Harry S. Truman đã làm sau vụ Taejon, Kunri và Chosin Reservoir (ở Triểu Tiên), Lyndon Baines Johnson (LBJ) lại thu mình im lặng trong Tòa Bạch Ốc.
       Braestrup nhận xét, “Nếu ông không xuất hiện trước công chúng vì bị khủng hoảng giống như những người dưới quyền mà sau đó ông đã quở trách vì sự thiếu tinh thần của họ, ông đã không tạo ra được một vị thế quyết định trước công chúng. Ông nhấn mạnh đến nhu cầu cần đoàn kết, nhưng lại không nói rõ ý nghĩa cụ thể, hoặc tình hình chiến sự đã thay đổi như thế nào ở Việt Nam. Ông đã để lại một khoảng trống lớn lao mà những người khác phải lấp đầy.”
       Vì sao vụ tấn công Tết MT lại có một ảnh hưởng sâu xa đến như thế? Chỉ vì một điều, trái tim của LBJ không thực sự coi chiến tranh như là vị trí số một. Nghĩ rằng việc ấy có thể gây nguy hại cho chương trình cải cách xã hội “Đại Xã Hội” (Great Society) của ông, nên tất cả những điều ông thực sự muốn là chiền tranh hãy đi chỗ khác chơi. Nhưng chiến tranh đâu có dành cho những trái tim yếu đuối.
Nhưng lỗi không chỉ bởi Johnson không mà thôi. Đóng góp vào “sự thất bại về tâm lý” của ông còn có sự phản trắc - lừa gạt sự tin tưởng - của những vị cố vấn an ninh quốc gia chính yếu của ông, đó là các ông Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert S. McNamara và Clark Clifford, và Tướng Earle G. Wheeler, Chủ Tịch Tham Mưu Hỗn Hợp.
     Để hiểu tại sao những biến cố chính trị này ở Washington lại có một ảnh hưởng sâu xa như thế người ta phải có một sự hiểu biết căn bản về chiến tranh. Thông thường người Mỹ đã nhìn chiến tranh và chính trị như những sự việc tách rời, nhưng trong thực tế chúng có liên hệ mật thiết với nhau, vì chiến tranh trong bản chất của nó là cái mà Clausewitz (một lý thuyết gia về quân sự) đã nói, nó là “một công cụ chính trị bằng một phương cách khác.”
Xa hơn nữa, chúng ta vẫn bị huyễn hoặc bởi sự kiện là Chiến Tranh Việt Nam thường được giải thích bằng những thuật ngữ lấy từ những lý thuyết về chiến tranh du kích cách mạng của Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông. Nhưng như tôi (tức tác gỉa Harry G. Summers, Jr.) đã trình bày chi tiết trong On Stragety: A Critical Analysis of The Vietnam War (NXB Presidio/Dell), chìa khóa để hiểu Chiến Tranh Việt Nam nói chung, và biến cố Tết 1968 nói riêng, không chỉ nằm trong những lý thuyết mới và cũ về chống nổi dậy được cổ võ bởi những chuyên gia dân sự và những người đồng hội của họ trong giới quân sự, họ tin tưởng một cách kiêu ngạo rằng, với những công cụ của khoa học xã hội, họ có thể thay đổi được cả thế giới. Tuy nhiên câu giải đáp lại nằm trong những nền tảng cũ kỹ lâu đời của khoa học quân sự.
Trong khi Bắc Việt và VC không thể và không đánh bại được người bạn đồng minh Hoa Kỳ của QLVNCH trên chiến trường, chúng đã giáng những cú đấm chí mạng (fatal blows) vào lợi ích chung giữa Hoa Kỳ và Miền Nam Việt Nam, vào cá tính vị tổng tư lệnh Hoa Kỳ là Lyndon B. Johnson, và vào công luận Mỹ.
      Clausewitz đã viết, “Chiến tranh không có gì khác hơn là một cuộc song đấu trên bình diện lớn hơn, nhưng để hình dung toàn thể bức tranh có thể tưởng tượng như một cặp đô vật. Mỗi bên cố gắng qua những sức lực về thể chất buộc bên kia phải làm theo ý muốn của mình; mục tiêu chính của nó là ném đối thủ để cho đối thủ không còn khả năng chống trả.” TT Johnsom đã không chỉ bị ném bởi kẻ thù trong vụ Tấn Công Tết MT 1968, mà còn bị ghìm lại nữa. Các cộng sự viên của ông cũng chẳng giúp được gì cho ông.
       So sánh những cuộc chiến tranh trước đây có thể thấy rõ hơn. Sau những thiệt hại trong Thế Chiến II, TT Roosevelt vẫn tin tưởng vào sự ủng hộ và cố vấn của người bạn lâu đời là Đô Đốc William D. Leahy, chánh văn phòng riêng của ông và là chủ tịch đặc biệt về Tham Mưu Hỗn Hợp cũng như sự ủng hộ của chính các vị tư lệnh như Tướng George C. Marshall và Đô Đốc Ernest J. King.
      Trong chiến tranh Triều Tiên, Tổng Thống Truman cũng tin tưởng vị Bộ Trưởng Quốc Phòng George C. Marshall, người từng là tham mưu trưởng Lục Quân trong Thế Chiến II, và Tướng Lục Quân Omar N. Bradley, chủ tịch Tham Mưu Hỗn Hợp.
      Nhưng Tổng thống Johnson thì lại thiếu một sự ủng hộ vững chắc như thế.
      Hầu hết người Mỹ không thấy rằng khác với Tổng Thống Franklin D. Roosevelt trong Thế Chiến II và Tổng Thống Truman trong Chiến Tranh Triều Tiên, Tổng Thống Johnson đã không trực tiếp chỉ huy các lực lượng quân sự qua Ban Tham Mưu Hỗn Hợp - khởi thủy gồm có chủ tịch, tham mưu trưởng Lục Quân, và tham mưu hành quân của hải quân, nhưng kể từ sau năm 1952, có cả tư lệnh TQLC.
Với Đạo Luật An Ninh Quốc Gia năm 1947, sau khi đã tu chính, Quốc Hội đã đặt ra thêm Bộ Quốc Phòng, và tổng thống chỉ đạo sự chỉ huy các lực lượng quân sự của mình thông qua ông bộ trưởng quốc phòng mới được thành lập. Do đó vị bộ trưởng quốc phòng không chỉ là cái tên gọi suông, mà còn là vị chỉ huy quân sự của quốc gia. Tổng Thống Harry S. Truman đã mau chóng nhận ra vấn đề sau những thiệt hại ban đầu trong Chiến Tranh Triều Tiên vào năm 1950. Ông đã sa thải Louis Johnson, một người được đề cử vì lý do chính trị, và đề cử Tướng Lục Quân George Marshall đảm nhiệm chức vụ (BT quốc phòng) trong lúc chiến cuộc đang dữ dội.
Trong chiến tranh Triều Tiên, một dây chuyền chỉ huy bắt đầu từ tổng thống như một vị tổng tư lệnh tới ông bộ trưởng quốc phòng và tới các vị tư lệnh lãnh thổ như Tư Lệnh Âu Châu, Tư Lệnh Viễn Đông, v.v& xuyên qua Ban Tham Mưu Hỗn Hợp. Vào thời gian đó, một hệ thống điều hợp được áp dụng trong đó Ban Tham Mưu Hỗn Hợp chỉ định một tư lệnh thường trực - thường là Tham Mưu Trưởng Lục Quân như trong trường hợp chiến tranh Triều Tiên này - để cung cấp sự nối kết giữa vị tư lệnh thống nhất và Ban Tham Mưu Hỗn Hợp.
Nhưng Đạo Luật Cải Tổ Quốc Phòng năm 1958 đã hủy bỏ hệ thống điều hợp đã hoạt động hữu hiệu trong Chiến Tranh Triều Tiên và đã đưa đến kết qủa là Ban Tham Mưu Hỗn Hợp đã không còn trong dây chuyền chỉ huy. Chiến Tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh đầu tiên (và duy nhất) được chỉ đạo theo hệ thống mới này.”

       Harry G. Summers, Jr. cho rằng việc thay đổi nhiệm vụ của bộ trưởng quốc phòng theo Đạo Luật Cải Tổ Quốc Phòng 1958 là một trong những nguyên nhân đưa đến sự thất bại. Căn cứ theo đạo luật cải tổ, các bộ trưởng quốc phòng được tuyển chọn thường là các doanh gia có nhiều kinh nghiệm về quản lý trên thương trường nhưng lại không có một chút kinh nghiệm gì về quân sự như trường hợp bộ trưởng Charles Wilson dưới thời TT Eisenhower và Robert McNamara dưới thời TT Kennedy và Johnson. Rõ ràng một bộ trưởng quốc phòng kiểu ấy như McNamara không thể là một đối thủ của tướng Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng quốc phòng của cộng sản Bắc Việt, một kẻ có qúa nhiều kinh nghiệm chiến trường. Hơn nữa, McNamara lại còn có tinh thần chủ bại khi nghĩ rằng cuộc chiến không thể nào chiến thắng về mặt quân sự thì sự thất bại sẽ đến cũng là điều tất yếu (trích):

       “Thật đáng tiếc, Đạo Luật Cải Tổ Quốc Phòng cũng cùng lúc thay đổi nhiệm vụ của Bộ Trưởng Quốc Phòng. Vào cuối thập niên 1950s và đầu thập niên 1960s, vấn đề không chỉ là chiến đấu như thế nào mà còn là quản lý ngân sách quốc phòng ra sao. Vì vậy, sự thành công của các doanh gia – như Charles Wilson hay “Charles Đầu Máy” của General Motor trong chính phủ Eisenhower và Robert S. McNamara của hãng Ford trong chính phủ Kennedy – đã được chỉ định vào những chức vụ này. Được nổi tiếng qua nhóm “tuổi trẻ tài cao” (whiz kids) gồm các kế toán gia và các nhà phân tích hệ thống, McNamara tỏ ra là một nhà hành chánh có hiệu quả và kiên quyết.
Nhưng đó mới chỉ là một phần công việc của ông. McNamara được lưu nhiệm sau vụ ám sát Kennedy, và khi Hoa Kỳ quyết định liên hệ trực tiếp về quân sự ở Việt Nam, nhiệm vụ lúc đầu của McNamara trong cương vị là bộ trưởng quốc phòng đã phải chuyển đổi từ việc quản trị sang các nhiệm vụ lãnh đạo như là vị chỉ huy về quân sự.
Là bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, ông là đối thủ của bộ trưởng quốc phòng Bắc Việt Võ Nguyên Giáp. Sự vô lý của tình hình thật rõ rệt... Trong cuốn Vietnam, A History (NXB Viking) Stanley Karnow đã viết, “Trong cuộc chiến chống lại người Mỹ, Giáp đã nói cuộc chiến có thể mười, hai mươi, năm mươi năm, bất kể gía nào, cho đến khi giành được chiến thắng sau cùng.”
Nhưng qua sự thú nhận của chính McNamara sau này, Giáp đã đánh bại ông ta ngay từ lúc khởi đầu. Trong phiên tòa xử vụ án phỉ báng giữa CBS-Westmoreland năm 1984, McNamara đã thú nhận rằng ngay từ những năm 1965 hay 1966 ông ta đã nghĩ rằng chiến tranh “không thể nào chiến thắng về mặt quân sự”. Nói một cách khác, ba năm trước Tết MT, tham vọng chiến thắng của vị tư lệnh quân sự Mỹ đã hoàn toàn tan vỡ.
      Điều đó thật là tai hại, bởi vì chiến tranh là sự tranh đua về ý chí. Và ý chí của vị tư lệnh đóng vai trò quyết định, đặc biệt là khi mọi việc đang xấu đi.
       McNamara đã rơi vào tình trạng đó. Thay vì nói cho Johnson biết những bế tắc của cuộc chiến, ông ta lại im lặng trong khi cùng lúc đó lại gởi binh lính dưới quyền chỉ huy của mình vào chiến trận mà chính bản thân mình đã tin là không thể chiến thắng.
Cái kết luận không thể chối cãi được là chính bởi sự im lặng ấy sẽ không làm hại tới việc Johnson sau này bổ nhiệm ông làm chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới. Trong tạp chí Newsweek số ra ngày 3 tháng 8 năm 1992, ông đã nói, “Kể từ khi rời bộ quốc phòng vào năm 1968, ngoại trừ trong vụ làm chứng nhân trong phiên tòa xử vụ phỉ báng Westmoreland kiện CBS, tôi không hề đề cập đến những vần đề này.” Nhưng thay vì xin lỗi về những hành vi trong qúa khứ, ông ta lại huyênh hoang về cái vai trò chính trị đầy nhậy cảm mà ông ta từng đảm nhiệm.
Vào cùng thời gian ông ra lệnh cho các thanh niên nam nữ Hoa Kỳ đi ra chiến trường, ông lại thỏa hiệp với các lãnh tụ phản chiến, bằng ngay chính những lời tự thú, là “Thượng Nghị Sĩ William J. Fulbright, chủ tịch Ủy Ban Ngoại Giao; mục sư William Sloan Coffin, tuyên úy tại Yale; một tín đồ giáo phái Quaker trẻ mà sau này tự thiêu ngay dưới cửa sổ văn phòng tôi tại Ngũ Giác Đài; Sam Brown, người bạn của các con tôi, người sau đó cầm đầu cuộc diễn hành phản đối tổng thống và tôi, đã dùng cơm chiều tại nhà tôi.”
Một tháng sau vụ tấn công Tết Mậu Thân, Mc Namara từ chức bộ trưởng quốc phòng và được thay thế bởi Clark Clifford. Nhưng tình trạng vẫn không cải thiện. Clifford thú nhận trong cuốn hồi ký năm 1991, Counsel to the President (NXB Random House), rằng ông ta được lựa chọn bởi vì Johnson muốn có “một bộ trưởng quốc phòng ủng hộ chính sách của tổng thống”. Nhưng thay vì như vậy, như Clifford đã tự xác nhận, Tổng Thống Johnson cũng lại bị phản bội.
Clifford nói với các cộng sự viên: “Tôi muốn gây ấn tượng nơi tổng thống rằng tình hình chúng ta rất khó vượt qua cho nên chúng ta phải tìm cách rút ra thôi.” Nhưng, thay vì thuyết phục Johnson, Clifford lại làm tê liệt tổng thống như nhận định của nhà phê bình Lewis Sorley. Một mặt gây ảnh hưởng trong việc hoạch định chính sách, mặt khác làm xói mòn thiếu tin tưởng vào chính sách đã đề ra.”

Theo Harry, ngoài bộ trưởng quốc phòng, Ban Tham Mưu Hỗn Hợp cũng đóng một vai trò tệ hại không kém. Điều tệ hại nhất là Ban Tham Mưu Hỗn Hợp đáng lẽ phải là một bộ phận tham mưu cố vấn về mặt quân sự cho vị tổng thống thì họ lại không có một chính sách về quân sự có hiệu qủa. Ngoài ra, dù không cố tình phản bội vị tổng tư lệnh tức tổng thống, nhưng họ lại không cung cấp những thông tin đúng đắn trung thực cần thiết, nhất là dù biết rằng cuộc chiến khó thể thành công và Hoa Kỳ có thể thất bại, nhưng họ đã không hề nói ra điều này: (trích)

“Thật đáng buồn việc hỗ trợ Tổng Thống từ Ban Tham Mưu Hỗn Hợp cũng chẳng khá hơn. Trong khi các tham mưu hỗn hợp không phản bội vị tổng tư lệnh một cách có ý thức, họ cũng chẳng cung cấp cho ông sự cố vấn về quân sự cần thiết mà ông cần có một cách đúng đắn.
Sự chỉ trích tệ hại nhất về vai trò của Ban Tham Mưu Hỗn Hợp trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam lại do một trong những thành viên của nó là Tướng Lục Quân Bruce Palmer, Jr. Palmer viết, “Ban Tham Mưu Hỗn Hợp dường như không thể đề ra một chính sách về quân sự có hiệu qủa để có thể thuyết phục vị tổng tư lệnh và ông bộ trưởng quốc phòng chuẩn nhận.” (The 25-Year War: America’s Military Role In Vietnam / NXB University of Kentucky Press – 1984)
“Một sự thiếu sót lớn trong sự cố vấn mà Ban Tham Mưu Hỗn Hợp cung cấp cho tổng thống và vị bộ trưởng quốc phòng là & không một lần nào trong chiến tranh Ban Tham Mưu Hỗn Hợp cố vấn vị tổng tư lệnh cũng như ông bộ trưởng quốc phòng rằng chính sách đang theo đuổi có thể thất bại và Hoa Kỳ không thể nào hoàn thành mục tiêu đã đề ra.”
Palmer kết luận, “Lời giải thích duy nhất cho sự thất bại này là các tham mưu trưởng đã bị nhiễm cái tinh thần ‘có thể làm được’ (can do) mà không thể tự phủ định hoặc có vẻ như không thành thật.” Nhưng không muốn cho Tổng Thống Johnson thấy cái nhận xét tiêu cực của họ, họ đã tạo ra sự thiếu trung thực, tội lỗi phạm vào cái tiêu lệnh về danh dự của Học Viện Quân Sự của Hoa Kỳ là “thiếu minh bạch”, một hình thức nói dối bằng cách lảng tránh không nói ra hết sự thật.”
Đã không tập hợp lại để ủng hộ tổng thống trong Tết MT, Ban Tham Mưu Hỗn Hợp sau đó lại còn làm hao mòn ý chí và quyết tâm, mặc dù không chủ ý, nhưng làm như vậy đã làm cho sự liên hệ vào Việt Nam sau này trở thành tai hại chết người. Thay vì thuyết phục Johnson rằng mọi việc không đến nỗi tệ như nó đã diễn ra, họ lại dùng sự tấn công của địch như là một cái cớ để thúc đẩy việc điều động quân số trừ bị hầu tung ra hết quân số trừ bị chiến lược của Hoa Kỳ.
Theo quan điểm của họ, sự lừa dối đó là đúng đắn. Như Palmer phân tích, Ban Tham Mưu Hỗn Hợp ngay từ ban đầu “đã thiếu sự hướng dẫn tổng quát về chiến thuật cho các lực lượng quân sự Hoa Kỳ, vì lực lượng còn non trẻ của Đông nam Á, do nhu cầu, họ muốn nhanh chóng sử dụng lực lượng trừ bị chiến lược của Hoa Kỳ đã từng tăng cường cho Âu Châu hay cho Đại Hàn trước đây, hay cho một nơi bất ngờ nào đó không biết trước.”
Cùng với sự khủng hoảng Tết lại xảy ra việc Bắc Hàn bắt giữ chiến hạm USS Pueblo và những báo cáo tình báo cho biết đang sắp có một sự khủng hoảng ở Bá Linh. Trong cuốn The Unmaking of the President: Lyndon Johnson and Vietnam (NXB Princeton University Press) tác gỉa Herbert Y. Schandler đã viết, “ chính phủ đã không thể qủa quyết rằng những biến cố này không tiêu biểu cho một một sự tấn công của cộng sản đã được hoạch định để làm Hoa Kỳ bối rối và thất bại không chỉ ở Việt Nam mà còn ở bất cứ nơi nào trên thế giới.”
Với sự lo ngại đó, Schandler nói, vị Chủ Tịch Tham Mưu Hỗn Hợp, Tướng Earle G. Wheeler, và các tham mưu trưởng “đã coi Tết như là một cơ hội để mượn tay tổng thống để thực hiện cái mục tiêu theo đuổi từ lâu của họ là điều động lực lượng trừ bị.” Để đạt điều ấy, họ đã “kiên trì xin một yêu cầu ‘khẩn cấp’ để tăng cường cho vị tư lệnh chiến trường đang bị vây khốn.”

Cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 tuy có gây bất ngờ cho Hoa Kỳ và đồng minh VNCH lúc ban đầu, nhưng chỉ không đầy một tháng sau, mọi cuộc tấn công của địch đã bị đẩy lui kể cả việc tái chiếm lại cố đô Huế sau khi đã bị cộng sản chiếm đóng hơn ba tuần lễ. Quân cộng sản Bắc Việt và Việt Cộng đã bị thiệt hại nghiêm trọng mà mãi mấy năm sau – theo chính sự thú nhận của cộng sản sau này – chúng vẫn chưa phục hồi lại được nguyên vẹn. Lợi dụng tình thế này, Tướng Westmoreland muốn bổ sung thêm quân số Hoa Kỳ tại Việt Nam để mở những cuộc hành quân truy diệt cộng sản giáng cho chúng một đòn chí tử, nhưng tiếc thay kế hoạch của ông đã bị diễn dịch một cách sai lạc. Họ cho rằng đó là dấu hiệu của sự thất bại, không phải là chiến thắng. Vì nếu đang là chiến thắng thì tại sao lại phải bổ sung thêm quân. Đáng tiếc hơn nữa là trong bản báo cáo về kế hoạch của Tướng Westmoreland, Tướng Wheeler, chủ tịch ban Tham Mưu Hỗn Hợp đã diễn dịch với một ý nghĩa xấu. Báo cáo của tướng Wheeler không nói gì đến kế hoạch của tướng Westmoreland, mà chỉ nói đến sự nghiêm trọng của tình hình cần bổ sung thêm quân số. Sự giải thích không rõ ràng và sai lạc kế hoạch của Westmoreland đã gây hoang mang trong công chúng. Nhiều người đã phẫn nộ khiến cho từ đó phong trào phản chiến ngày một lan rộng và Tổng Thống Johnson ngày một thêm khủng hoảng để cuối cùng đã đi đến quyết định không tái tranh cử tổng thống nhiệm kỳ thứ hai. Điều này thật là tai hại. Nó đã được diễn giải như là ý chí chiến thắng (cuộc chiến Việt Nam) của người lãnh đạo quốc gia số một thế giới hay Hoa Kỳ đã không còn nữa. Nó đã báo hiệu cuộc chiến đang đi đến một khúc quanh không mấy tốt đẹp, như Harry đã viết: (trích)

“Vị tư lệnh Mỹ tại Việt Nam, Tướng William C. Westmoreland, được chỉ đạo rằng “chính phủ sẵn sàng bỏ chiến thuật tiệm tiến (gradualism) đang theo đuổi và có thể cho phép ông sử dụng binh lính và thẩm quyền mà ông đang mong muốn từ lâu để chấm dứt chiến tranh trong một thời khóa biểu hợp lý.”
Westmoreland nói, “Tôi đã dự định một chiến thuật mới lợi dụng chỗ yếu của địch cho thật đúng lúc bởi vì sự lùi bước của chúng ta trên chiến trường chỉ là tạm thời, tình hình của địch như nó đã triển khai & đã chứng tỏ rằng chúng đang bị thương tích.”
Nhưng Tướng Wheeler đã có kế hoạch riêng, Schandler nói, “Trong báo cáo về Washington, Tướng Wheeler đã nhấn mạnh đến sự nghiêm trọng của tình hình ở Miền Nam Việt Nam và không nói gì về một chiến thuật mới, về những sự bất ngờ đưa đến quyết định mức độ lực lượng cần thiết ở nơi đó, hoặc về việc chấn chỉnh lại lực lượng trừ bị chiến lược để có thể sử dụng độc lập cho Việt Nam. Thực vậy, bản báo cáo của ông chứa đựng một hình ảnh thật ảm đạm và bi quan về quân đội và chính phủ Miền Nam Việt nam.”
“Bản báo cáo của Wheeler đã thực sự là một điềm xấu,” Clark đã nói với Schandler như vậy. “Đối với tôi, có vẻ như ông ta nói rằng toàn bộ tình hình rất bấp bênh, và chúng ta phải thêm quân. Tôi (và mọi người cũng vậy) đều nghĩ rằng ông ta đang nói ông ấy cần thêm 206.000 binh sĩ ở Việt Nam. Dù là lý do gì, ông ta vẫn muốn thêm 206.000 người. Sau chuyến viếng thăm Sài Gòn vào Tháng Hai 1968, ông ta trở về với một câu chuyện đầy đe dọa. chúng ta không biết chúng ta có bị tấn công nữa hay không, nhiều đơn vị Miền Nam Việt nam đã bị xóa sổ (?),và nơi đó có thể sụp đổ về chính trị.”
Westmoreland đã sắp đặt sẵn. Để tạo sự căng thẳng bởi những viễn ảnh tiêu cực của tình hình ở Việt Nam, Schandler kết luận, Wheeler “đã nhìn Tết và phản ứng đối với nó như một cơ hội, có lẽ là cơ hội chót, để thuyết phục chính phủ kêu gọi lực lượng trừ bị và & cho phép một vài sự linh động về quân sự để đối phó với những bất ngờ khác. Việt Nam là một nguyên do, nhưng không nhất thiết là kẻ thụ hưởng chính yếu việc kêu gọi lực lượng trừ bị.” Tướng Wheeler rất khôn khéo. Thay vì vội vã kêu gọi lực lượng trừ bị như ông dự định, bản báo cáo của ông nhắm vào việc xem xét lại cuộc chiến.”
Đây là một trong những giai đoạn gây tranh luận nhiều nhất trong lịch sử cận đại Mỹ.
Điều gây tranh cãi không chỉ sôi nổi trong chính phủ mà còn tiết lộ trên báo chí. Một viên chức bất mãn đã nói với tờ The New York Times về việc yêu cầu tăng cường 206.000 quân, mặc dù không đề cập đến việc để yểm trợ một đề nghị thay đổi trong những cuộc hành quân. Bản tin chạy tít lớn ba cột trong ấn bản ngày Chủ Nhật 10 Tháng Ba năm 1968. Nội dung và mục đích bài báo đã chấm dứt sự tranh luận và giết chết kế hoạch của Westmoreland về một chiến thuật mới rất táo bạo.
Độc gỉa đã xem xét một cách sai lầm nhưng tự nhiên một sự hoán chuyển từ thất vọng sang thất bại. Tin tức về việc yêu cầu thêm 206.000 quân đã củng cố mối nghi ngờ của nhiều người rằng kết qủa của cuộc Tấn Công Tết Mậu Thân đã không được mô tả chính xác bởi tổng thống hoặc những phát ngôn viên của ông. Nếu Cộng Sản đã bị thiệt hại nặng nề, tại sao chúng ta cần gia tăng lực lượng chúng ta lên 40%.
Trong nhiều năm, các giới chức đã tô hồng lời nói; trong nhiều năm chiến tranh đã trải qua. Thực vậy, chỉ mới ba tháng trước, Tướng Westmoreland đã trở về Mỹ bảo đảm trước công chúng rằng mọi việc đang diễn ra tốt đẹp, và sự kết thúc đang đến gần. Nay chiến tranh bùng nổ, và cũng vị tướng đó đang yêu cầu thêm quân để chế ngự một cuộc chiến đang mở rộng.
Con số đó là quá nhiều. Công chúng đã nổi loạn. Từ đó đa số người Mỹ không còn ủng hộ tổng thống trong việc chỉ đạo cuộc chiến đấu. Trong cuộc bầu cử năm 1968, không thể có việc gia tăng giao tranh nếu Đảng Dân Chủ muốn ở lại Tòa Bạch Ốc.
Trong cuốn hồi ký của mình, qua việc tranh đấu thành công kiểm soát bài diễn văn của tổng thống đánh dấu việc bắt đầu sự thôi liên hệ vào Việt nam, Clark Clifford đã viết, “Chúng ta đã thắng một chiến thắng lớn, nhưng “chiến thắng” đó chẳng bao lâu đã thành tro bụi.”
Trong một bài nói chuyện trên truyền hình vào ngày 31 Tháng Ba năm 1968, Tổng Thống Johnson đã loan báo, như một đề nghị hòa bình, ngưng một phần giội bom Bắc Việt. Ông cũng tự rút lui khỏi cuộc chạy đua cho nhiệm kỳ thứ hai. Nhưng như Dave Palmer kết luận, “quốc gia và vị tổng thống của nó đã hứng chịu một sự thất bại tâm lý thật đau đớn, đã chịu đựng một sự thất bại cay đắng từ chính ngay trong tâm hồn&”

Qủa thật quyết định không tranh cử của Tổng Thống Lyndon B. Johnson đã báo hiệu một thất bại đang báo trước. Hoa Kỳ đã không còn hứng thú và kiên nhẫn với một cuộc chiến với qúa nhiều tốn phí và tổn thất dành cho họ. Đó chính là khúc quanh lịch sử, một khúc quanh đáng buồn trong cuộc chiến Việt Nam. Có đáng tiếc chăng là các nhà lãnh đạo của chúng ta đã qúa chủ quan không nhìn ra sự thật cay đắng này sớm hơn.

----------------------------------------------------------------

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn