ĐÀ NẴNG HỌP MẶT

07/02/20179:32 CH(Xem: 3133)
ĐÀ NẴNG HỌP MẶT
ĐÀ NẴNG HỌP MẶT

        Trước lễ mãn khóa tại Học Viện CSQG năm 1966 tôi đã có ý định chọn vùng phục vụ ở miền nam chứ không về vùng I. Không phải tôi phụ bạc nơi chôn nhau cắt rốn, cũng không phải vì miền Nam trù phú mưa thuận gió hòa mà vì tôi đang mang nỗi đau trong lòng.
       Giữa tháng 6, đang lúc Học Viện lên chương trình tập dượt văn nghệ mãn khóa cho K1/TSV thì tôi nhận bức điện tín của chị Cúc từ Huế: “Mẹ mất em về ngay”. Tôi chết điếng cả tâm hồn. Ba tôi mất vào ngày bãi trường năm đệ ngũ (lớp 8 bây giờ). Các anh chị đều đã có gia đình, tôi là niềm vui của mẹ. Với tôi, mẹ không những là nguồn sống mà còn là một trời yêu thương của tuổi thơ. Một buổi sáng tinh mơ tôi từ giã gia đình để bước vào đời cảnh nghiệp, mẹ nén tiếng khóc mà nước mắt tuôn rơi.
           “Ngày con lên đường vào Học Viện,
            Mẹ tiễn con đi lệ hai hàng…”
      Tôi đi xa, mẹ gầy ốm xanh xao vì thương nhớ thằng con, rồi một cơn bệnh ập đến mẹ không còn sức để níu lại cuộc đời.
                         “Con về bên mẹ vành tang trắng,
                          Tiễn mẹ về nơi chốn vĩnh hằng.
                          Mẹ đi con gởi theo bên mẹ,
                          Một nửa hồn con với nhớ thương.
        Trở lại Học Viện sau mười ngày về chịu tang cho mẹ, tôi cứ ngẫn ngơ như kẻ mất hồn. Ngày mãn khóa gần kề, tôi cứ bâng khuâng mãi. Mẹ mất rồi, về Huế chỉ thêm buồn, từ cuối vườn góc bếp đều có hình ảnh của mẹ. Vì vậy mà tôi đã có ý định xin phục vụ đâu đó ở trong Nam.
           Bỗng nhận được bức thư của chị Cúc khiến tôi thay đổi ý định. Chị Cúc là con áp út của ba mẹ, tôi là đứa sau cùng trong bảy anh chị em. Có lẽ vì tuổi tác gần kề nhau nên hai chị em tôi gần gũi, thương yêu nhau nhiều nhất. Trong thư chị nói rằng: “Ra trường em gắng xin về làm việc ở Huế để chị em mình có nhau. Chị biết mẹ mất em buồn lắm. Nhưng nỗi buồn của chị còn lớn hơn gấp bội. Em thấy đó, chồng chị vừa tử trận thì mẹ cũng ra đi mà chị thì đang gần ngày sinh nở…”.
          Tôi cùng một số anh chị em chọn về Nha Cảnh Sát Miền Bắc Trung Phần lúc đó đã dời cơ sở vào Đà Nẵng. Ở đó chúng tôi được làm đơn xin về phục vụ tại Ty Cảnh Sát tỉnh, thành nào tùy sở nguyện của mình. Phần tôi dĩ nhiên là xin về làm việc tại Huế như mong muốn của chị Cúc. Nhưng khi nhận Sự Vụ Lệnh, tôi lại được phân phối về Ty CSQG Thị Xã Đà Nẵng. Đó là một cái duyên để tôi gặp lại Ông cựu Liên Đoàn Trưởng Sinh Viên Sĩ Quan Học Viện CSQG nay đang là Trưởng Ty CSQG Thị Xã Đà Nẵng. Mùa hè năm 1966, Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám Đốc CSQG, được thượng cấp chỉ định ra Miền Trung để ổn định tình hình do cuộc biến động ở đó mà đặc biệt là tại Huế và Đà Nẵng. Đại Tá Loan cần một Trưởng Ty CSQG Đà Nẵng có khả năng và đáng tin cậy để giúp ông ổn định an ninh trật tự tại thành phố nầy. Đà Nẵng là thành phố lớn nhất và là địa bàn quan trọng ở Miền Trung. Đó là lý do ông Trần Minh Công có mặt tại tại Đà Nẵng dạo đó. Đà Nẵng chỉ cách Huế 100 km, cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ tôi chỉ mất có 2 giờ đi xe đò là về thăm gia đình được nên chị tôi không có cảm giác tôi quá xa nhà. Đầu năm 1972, tôi rời Đà Nẵng trở về Học Viện thụ huấn khóa 6 BTV. Xách gói lên đường lòng thầm nghĩ rồi ra không biết có được trở về nhiệm sở cũ hay phải tới một phương trời nào? Khóa 6 BTV ra trường được ưu tiên bổ sung cho Ủy Ban Phụng Hoàng từ cấp Trung Ương đến bốn vùng chiến thuật. Tôi chọn về Ủy Ban Phụng Hoàng Vùng I mà văn phòng thường trực tọa lạc trong khuôn viên BCH/CSQG Khu I nằm trên đường Yên Bái, Đà Nẵng. Năm 1973 nhân dịp Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình ra Đà Nẵng chủ tọa lễ bàn giao giữa Đại Tá Dương Quang Tiếp cựu CHT/CSQG Khu I và Đại Tá Nguyễn Văn Lộc. Sau lễ bàn giao giữa tân và cựu CHT/KHU I, Trung Tà Nguyễn An Vinh CHT/CSQG Thị Xã Đà Nẵng thỉnh cầu Đại Tá Lộc với sự hiện diện của Thiếu Tướng Bình cho tôi về BCH/CSQG Đà Nẵng để đảm nhiệm chức vụ Biệt Đội Trưởng Hình Cảnh mà Bộ Tư Lệnh vừa chỉ thị thành lập. Ngay ngày hôm sau tôi nhận Sự Vụ Lệnh thuyên chuyển về BCH/CSQG Đà Nẵng. Thế là “châu về hiệp phố”.
          Huế là nơi tôi được sinh ra và lớn lên trong khung cảnh hiền hòa thơ mộng.Thành phố Đà Nẵng lại cưu mang tôi trong độ tuổi vào đời cho đến ngày cộng sản miền bắc cưỡng chiếm vào ngày 29 tháng 3 năm 1975.Đối với tôi Đà Nẵng là quê hương thứ nhì   và BCH/CSQG Thị Xã Đà Nẵng là gia đình thứ hai của tôi.Nơi đó những cấp chỉ huy,sĩ quan đồng nghiệp và nhân viên thuộc quyền lúc nào cũng vui buồn có nhau,hỗ trợ cho nhau trong mọi công tác.
          Khi cộng sản cưỡng chiếm miền nam vào ngày 30-4-1975 thì một ít may mắn ra được Hạm Đội 7 đang neo đậu ngoài khơi,trong đó có anh Vinh. Phần đông kẹt lại thì hầu hết sĩ quan đều bị lùa vào trại tù cải tạo. Còn nhân viên cũng khốn đốn ngoài đời vì lý lịch “ngụy quân ngụy quyền”. Nhưng rồi Trời thương đến “người trung mắc nạn” nên một số đông anh em vượt thoát được nanh vuốt của kẻ thù bằng cách vượt biên hoặc đi theo diện H.O. Đa số người Việt tị nạn cộng sản chọn Hoa Kỳ làm quê hương thứ hai của mình và rũ nhau về quây quần nơi miền nắng ấm Cali.
          Cuối năm 2015,khi ghi danh tham dự Đại Hội kỹ niệm 50 năm ngày thành lập Học Viện CSQG tại nam Cali,tôi nghĩ ngay đến anh hai Nguyễn An Vinh và một số đồng nghiệp đã một thời phục vụ tại BCH/CSQG Thị Xã Đà Nẵng hiện đang định cư tại đó.Tôi ngõ ý với anh Vinh,Nguyễn Văn Sáo và Phạm thị Nhung tổ chức một buổi họp mặt cho Cảnh Sát Đà Nẵng song hành với ngày hội ngộ của Học Viện CSQG.Ý kiến ấy không những được Sáo ,Nhung mà cả anh Vinh cũng hưởng ứng nồng nhiệt.Tôi phát emails đi mời những ai đã một thời gắn bó với thành phố biển miền trung nầy.Người đáp ứng lời mời đầu tiên là anh cả Trần Minh Công,cựu Đại Tá Viện Trưởng Học Viện CSQG.Tôi rất vui vì được hai ông cựu CHT đầu và cuối đời cảnh nghiệp của tôi hứa đến tham dự cuộc hội ngộ bỏ túi sau hơn 41 năm tan đàn,gảy gánh.
          Thỉnh thoảng anh Vinh lại thúc dục việc chuẩn bị địa điểm và thức ăn cho ngày vui họp mặt. Anh nói: “Không sợ tốn kém gì cả, phải ăn một bữa phủ phê cho sự kiện ngàn năm một thuở nầy. Còn địa điểm thì nên thuê nhà hàng để khỏi phiền ai”.
          Ba anh em chúng tôi đếm tới tính lui thì số người tham dự chừng dưới 30 người. Cô Nhung nói: “Nếu chỉ chừng ấy người mà thuê nhà hàng thì phí mà lại không vui. Phía sau nhà em có cái patio có thể dùng làm địa điểm hội họp được, chỉ thiếu bàn ghế. Thức ăn thì không lo, order gì cũng có”. Về mục bàn ghế thì bạn Sáo đảm trách. Việc dự trù cho buổi họp mặt tạm ổn nhưng tôi cũng phải điện thoại hỏi ý kiến của anh Đoàn Ca, phu quân của cô Nhung. Anh ấy nói rằng tuy nhà nầy là của người con rễ, song không có gì trở ngại chỉ sợ không đủ chỗ. Còn khâu ẩm thực thì cô Nhung nhận lãnh trách nhiệm đặt mua ở nhà hàng. Tôi chuyển lời của anh Vinh đến cô Nhung là anh em sẽ đóng góp để hoàn lại.Cô ấy nói: Các anh khỏi lo,”em là lính chịu chơi “ mà.
          Đến đây tôi mở dấu ngoặc để có vài lời về người “ lính chịu chơi” nầy. Vào khoảng cuối năm 1966, Tổng Nha CSQG chỉ thị cho tất cả các ty CSQG tỉnh thị trên toàn quốc thành lập phòng Hành Quân để tổ chức và theo dõi các cuộc hành quân cảnh sát trong phạm vi trách nhiệm của mình. Ông Trưởng Ty Trần Minh Công gom hết các sĩ quan xuất thân từ Học Viện CSQG đang phục vụ ở các ban ngành về phòng HQ ,ông phó trưởng ty Nguyễn Ngọc Nghĩa kiêm nhiệm chức vụ Trưởng Phòng và văn phòng của ông phó cũng là phòng HQ vì chưa có phòng ốc. Trong những nhân sự đầu tiên của phòng HQ có một “cánh hoa ”làm thư ký đánh máy. Đó là “người lính chịu chơi” bây giờ. Năm 1972 khi tôi trở lại thụ huấn ở Học Viên thì Phạm Thị Nhung cũng rời Đà Nẵng đưa phu quân đi làm “công tử Bạc Liêu”. Sau nầy gặp lại cô ấy nói rằng dù làm việc ở BCH/CSQG Bạc Liêu hơn ba năm nhưng tình cảm chỉ gởi trọn nơi BCH/CSQG Đà Nẵng. Sau khi định cư ở Hoa Kỳ, nếu biết được số điện thoại của ai cùng thời làm việc ở Đà Nẵng cô ấy đều gọi thăm. Đó là lý do Phạm Thị Nhung rất sốt sắng trong việc tổ chức ngày Đà Nẵng họp mặt dự trù vào lúc 12 giờ trưa đến 3 giờ chiều ngày 17 tháng 7, 2016.
          Vợ chồng tôi rời North Carolina bay đến nam Cali vào ngày 14 tháng 7, trước tiền đại hội 50 năm Học Viện CSQG hai ngày. Việc đầu tiên của tôi là hẹn gặp bạn Sáo tại nhà anh chị Đoàn Ca để lên khung cho buổi họp mặt. Căn nhà của con gái anh chị rất đẹp, khu vườn sau nhà tuy không rộng nhưng cây cối, hoa quả được chăm chút cẩn thận. Giữa khu vườn là một patio rất thích hợp cho những lúc trà dư tửu hậu. Hành lang bên hông nhà dài và khá rộng có mái che, đó là nơi anh em chúng tôi chọn nơi đặt bàn ghế. Người con rễ của anh Ca rất vui vẻ và hiếu khách khiến tôi an tâm, không còn lo phiền hà gia chủ. Cô Nhung đưa ra một danh sách thức ăn đã đặt ở nhà hàng dài chừng mười món: nem, chả,bánh cuốn, chả giò ,bánh bèo, bánh lọc… Nguyễn Văn Sáo đề nghị có thêm một món thức ăn lỏng như bún bò chẳng hạn. Nhưng tôi thấy thực đơn đã quá nhiều nên góp ý chừng ấy là quá đủ, vả lại mình tổ chức theo lối selfservice thì thức ăn nước dễ vấy bẩn áo quần.
          Sáng Chúa Nhật 17/7, sau khi tham dự lễ đặt vòng hoa ở tượng đài Việt-Mỹ, vợ chồng tôi cùng cô em đến ngay nhà cô Nhung để giúp Sáo cùng vợ chồng anh Ca chuẩn bị đón tiếp thân hữu.
          Thật vui khi mọi người lần lượt đến. Tiếng chào hỏi cười nói râm rang vang dội. Người vui vẻ nhất và giọng nói nổ vang như tiếng pháo có lẽ không ai bằng anh hai Nguyễn An Vinh. Mặc dầu tuổi của anh đã gần cửu tuần mà giọng nói và tiếng cười vẫn sang sảng như thuở nào. Ngoài anh Vinh, những người mới gặp lại lần đầu sau ngày mất nước là anh Nam (kinh tế), anh Trọng (đặc biệt, anh Chính (quận nhì), vợ chồng Trần Văn Lâu (giang cảnh), vợ chồng Nhung Ca (phòng HQ), vợ chồng Lê Thế Viên. Còn anh Hoàng Phiếm và anh Đoàn Ngọc Đà, đây cũng là lần đầu tôi gặp lại kể từ khi định cư ở Mỹ. Thật mừng khi thấy sức khỏe của hai anh đã vượt thời gian. Rồi các bạn Nguyễn Hữu Nhật, Nguyễn Thị Máy, Trương Bá Chư, Lê Đối, vợ chồng Nguyễn Ngọc Tiến cũng đến góp mặt chung vui. Tiếc là một số thân hữu tôi có mời mà không đến tham dự được. Có một người tôi không mời được, đó là Lê Việt Hằng hiện đang bị liệt hai chân phải ngồi xe lăng ở VN.
          Trong niềm hân hoan hội ngộ, anh chị em cũng không quên những bạn đồng nghiệp đã về bên kia thế giới. Bạn Nguyễn Văn Sáo nhắc đến các anh đã bỏ mình trong các trại tù cải tạo như Nguyễn Văn Chánh, Hà Hồng, Nguyễn Thanh Phùng… và các anh đã vĩnh viễn ra đi chỉ một thời gian ngắn sau khi ra khỏi trại tù như Lê Văn Giáo, Từ Hải… Một số khác lại yên giấc ngàn thu trên miền đất tự do Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ nầy gồm các anh Nguyễn Hữu Chí, Trần Toản, Nguyễn Văn Xuân, Võ Công Châu, Nguyễn Văn Thu tự Thu Đen, Phan Như Hồng…
          Góp vào những câu chuyện hàn huyên, tôi ngỏ lời cảm ơn anh hai Nguyễn An Vinh đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian ông làm CHT/CSQG Đà Nẵng. Anh Vinh cười cười và với giọng hài hước cố hữu nói: “Vì cậu là con gà tre”. Có người thắc mắc hỏi: “Tại sao gọi K là con gà tre ?”.Anh trả lời: ”Gà tre tuy không oai vệ nhưng chiến đấu tới cùng, không bỏ cuộc”. Nghe vậy Nguyễn Hữu Nhật tiếp lời: “Nhờ vậy mà gà tre được ân thưởng Bảo Quốc Huân Chương”.Tôi liền đính chính là tôi không có Bảo Quốc Huân Chương mà chỉ được Chương Mỹ Bội Tinh”. Tôi kể cho mọi người nghe về thành tích mà tôi được tưởng thưởng 3 tấm huy chương trong đời cảnh nghiệp của mình. Cuối năm 1969 tôi nhận Sự Vụ Lệnh về làm Trưởng Ban Bài Trừ Du Đảng. Cầm SVL trên tay mà mặt tôi méo xẹo bởi tôi cảm thấy mình không có khả năng đảm trách phần hành nầy. Nhưng tôi may mắn có được một đội ngủ nhân viên tận tâm, lanh lợi, mưu trí và can đảm. Nhờ thế mà tôi đã phá tan nhiều băng cướp khét tiếng tại Đà Nẵng. Dường như “Anh Hai” cũng có máu trừ gian diệt bạo nên thường theo dõi công tác của ban “Bài Trừ Du Đảng”. Có nhiều lần chúng tôi xông vào sào huyệt của bọn cướp thì ông CHT ra lệnh cho hệ thống truyền tin im lặng, để ông theo dõi diễn tiến công tác của tôi. Năm 1971 tôi được BCH/CSQG Đà Nẵng đề cử danh hiệu cá nhân xuất sắc. Nhờ thành tích ấy, năm 1972  BTL/CSQG gọi tôi về Sài Gòn và được đích thân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu gắn tấm “Chương Mỹ Bội Tinh” vào ngực áo. Năm 1973, Biệt đội Hình Cảnh của tôi được lệnh phối hợp với Đặc Khu Đà Nẵng trong chiến dịch “Ổn định an ninh và trật tự thành phố”. Cuối chiến dịch tôi được BCH Đặc Khu Đà Nẵng đề nghị BTL Quân Đoàn I ân thưởng “Anh Dũng Bội Tinh với ngôi sao đồng”. Dựa vào công trạng nầy, Trung Tá CHT/CSQG Đà Nẵng đề nghị BTL/CSQG ân thưởng cho tôi “Cảnh Sát Chiến Công Bội Tinh Đệ Tam hạng”. Không ngờ cái chức vụ mà tôi hoảng sợ lúc nhận lãnh lại đưa đến cho tôi ba tấm huy chương.
          Bàn tiệc đang còn vui nhộn thì Nguyễn Ngọc Tiến và vài bạn phải cáo lui vì có chân trong ban tổ chức Đại Hội 50 năm HV/CSQG. Sau khi nhóm của Tiến ra về thì “Anh Cả” Trần Minh Công đến. Ông ấy xin lỗi đã đến trễ vì bận tham dự buổi họp mặt của nhóm cựu viên chức và nhân viên Học Viện CSQG.
          Cuộc vui ngày hội ngộ lại rẽ sang chiều hướng khác. Chúng tôi ngồi lắng nghe hai ông cựu CHT kể lại những khó khăn mà các ông phải đương đầu với thù trong giặc ngoài tại thành phố Đà Nẵng. Tuy có địa thế thuận lợi cho việc phòng thủ, cộng quân không thể tấn công Đà Nẵng bằng trận địa chiến, nhưng quân trú phòng đặc biệt là ngành Cảnh Sát, dễ gì ngủ yên với bọn đặc công thành. Đó là chưa nói tới tình hình chính trị do các đảng phái quốc gia gây ra không ít khó khăn cho chính quyền.
          Bèo hợp rồi tan âu cũng là lẽ đương nhiên của đời người. Tiệc vui của chúng tôi đã đến lúc chấm dứt. Ông cựu Viện Trưởng và anh em cựu Sinh Viên Sĩ Quan phải chia tay để tới địa điểm tham dự nghi thức và dạ tiệc kỹ niệm 50 năm ngày thành lập Học Viện CSQG.
          Sau khi mọi người ra về, ba anh em chúng tôi tính lại chi thu cho buổi tiệc hội ngộ thì thấy anh Vinh đã gánh gần phân nửa, thân hữu đóng thêm một ít. Phần còn lại cô Nhung bao hết. Nguyễn Văn Sáo và tôi đóng góp bồi hoàn phần nào cho cô ấy, nhưng Nhung từ chối và nói rằng: Các anh đừng lo, để phần ấy cho em. Vả lại chi phí cho buổi họp mặt nầy không nhiều, nhưng niềm vui đối với em là quá lớn. Em cảm thấy rất hạnh phúc.
          Thật vui với gia đình CSQG Đà Nẵng, sau gần nửa thế kỹ tan hàng mà chúng ta vẫn còn nhớ và thương yêu nhau. Thỉnh thoảng còn gởi chút quà cho người bệnh tật bên nhà.
          Ước mong chúng ta lại có ngày tái ngộ.
         
  Tống Phước Kiên
                                                   
          

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn