VNCH MỘT THỜI ĐỂ TÔN VINH ....

25/02/20191:09 CH(Xem: 673)
VNCH MỘT THỜI ĐỂ TÔN VINH ....
VIỆT NAM CỘNG HÒA:
 Một thời để tôn vinh và tưởng nhớ

*VANN PHAN

    Đã 43 mùa Xuân trôi qua sau khi Miền Nam Tự Do rơi vào tay Cộng Sản Bắc Việt vào cái ngày định mệnh 30 Tháng Tư năm 1975 đó. Khi đối diện với thực tế Việt Nam ngày nay là một xã hội bế tắc về mọi phương diện, từ chính trị, quân sự và đạo đức làm người cho tới kinh tế, xã hội và nhân quyền, hằng triệu người dân Việt trong nước cũng như ở hải ngoại không khỏi bùi ngùi nhớ tới những năm tháng an lạc, thanh bình dưới hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa khi Miền Nam Việt Nam từng tồn tại trong tư cách là một xã hội văn minh, tiến bộ với đầy đủ tôn ti, trật tự và các giá trị đạo đức tự nghìn xưa lưu truyền lại, mặc dù Việt Nam Cộng Hòa đang phải đối phó với cuộc chiến tranh đầy những chết chóc, đau thương và tàn phá khi phải nỗ lực chống trả cuộc xâm lược bạo tàn của Cộng Sản Bắc Việt, được sự hỗ trợ tận tình của Cộng Sản Quốc Tế, đặc biệt là Trung Cộng, trong suốt 15 năm trời (1960-1975).
    Tâm tư và tình cảm chung của đại đa số dân chúng Việt Nam trong và ngoài nước, vào lúc này, là niềm luyến tiếc khôn nguôi rằng nước Việt Nam Cộng Hòa tại Miền Nam Việt Nam đã bị xóa sổ sau cuộc chiến tranh tàn khốc, kéo theo cả một nước Việt Nam thống nhất đầy oan khiên vào ách cai trị độc tài và tàn ác dưới chế độ cộng sản, để rồi hậu quả sau cùng có thể thấy được là Việt Nam đành rơi vào vòng Bắc thuộc lần thứ 5, dưới bàn tay cai trị của các lãnh tụ Cộng Sản Trung Hoa ngày nay, những con người mới của thời đại mới, tàn ác, xảo quyệt và thâm độc gấp trăm, nghìn lần các thái thú Giao Chỉ Quận thời xưa.
    Khi nói tới đại đa số dân chúng Việt Nam, từ trong nước ra tới hải ngoại, ai cũng luyến tiếc Việt Nam Cộng Hòa, người ta phải nói đến toàn thể dân chúng Miền Nam Việt Nam, kể cả các thành phần phản chiến trước đây trót nghe theo lời u mê và nay đã mở mắt ra thấy được bộ mặt thật của chủ nghĩa cộng sản hồi trước năm 1975 cũng như dã tâm của các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam sau năm 1975. Rồi phải kể tới đông đảo dân chúng Miền Bắc Việt Nam, tuy bị cộng sản nhồi sọ về cái xã hội chủ nghĩa phồn vinh và nền độc lập, tự do, hạnh phúc giả trá của dân tộc qua bao thập niên, vẫn thấy được cái tốt đẹp và tính ưu việt của xã hội Miền Nam Tự Do trước năm 1975 cùng cái chính nghĩa sáng ngời của nước Cộng Hòa Việt Nam, cũng như công lao cùng thiện chi xây dựng và bảo vệ đất nước của các Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu, những nhà lãnh đạo vừa phải gian khổ đấu tranh chống kẻ thù cộng sản trong nước và vừa phải kiên cường chiến đấu bảo vệ giang sơn trước cuộc xâm lược của kẻ ngoại thù Trung Cộng hầu bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam. Điều đáng nói là, cho tới nay, mặc dù vẫn chưa đủ can đảm để nhìn nhận cái lầm mê và tội lỗi tày trời của mình đối với Việt Nam Cộng Hòa xưa kia dẫn đến thời đại ô nhục vì mất nước ngày nay, đám người “ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản” đó, trong tận cùng sâu thẳm của lương tri, vẫn thấy rằng chính thể Việt Nam Cộng Hòa, dù không hoàn hảo như bao thể chế dân chủ khác trên thế giới --kể cả “sư tổ” Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ-- vẫn còn tốt đẹp hơn gấp trăm, nghìn lần cái thiên đường cộng sản do các nhà lãnh đạo tại Bắc Bộ Phủ và Trung Nam Hải vẽ vời ra để gạt chúng mà cướp cạn đất nước Việt Nam.
    Ngày đó có em đi nhẹ vào đời…
    Vậy thì, đất nước và con người Việt Nam xưa kia tươi đẹp và hạnh phúc như thế nào? Xin hãy lắng nghe một đoạn trong ca khúc “Ngày Đó Chúng Mình,” một trong những ca khúc trữ tình, diễm lệ của nền âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa do Phạm Duy, một nhạc sĩ lừng danh nhưng cũng đầy tranh cãi của Miền Nam Tự Do, sáng tác. Phải nói rằng nhạc sĩ Phạm Duy viết bài này chỉ là để ca tụng những tháng ngày hoa mộng của một đôi trai gái đang yêu nhau giữa đất, trời mênh mông, tươi đẹp chứ không phải có nhã ý ca tụng vùng đất tự do, thanh bình và thịnh trị Miền Nam Việt Nam trong bối cảnh cuộc chiến tranh xâm lược của Cộng Sản Quốc Tế chống lại chính phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hoà đang đến hồi khốc liệt, với biết bao thảm cảnh chết chóc, chia lìa và tàn phá vì chiến cuộc lan tràn:
“Ngày đó có em đi nhẹ vào đời/Và mang theo trăng sao đến với lời thơ nuối/Ngày đó có anh mơ lại mộng ngời/Và se tơ kết tóc giam em vào lòng thôi.
“Ngày đôi ta vui tiếng hát vói đường dài/Ngâm khẽ tiếng thơ khơi mạch sầu lơi/Ngày đôi môi đôi môi đã quyết trói đời người/Ôi những cánh tay đan vòng tình ái.
“Ngày đó có ta mơ được trọn đời/Tình vươn vai lên khơi tới chín trời mây khói/Ngày đó có se duyên vượt biển ngoài/Trùng dương ơi giữ kín cho lâu đài tình tôi…”
    Với ý thơ và lời nhạc chải chuốt, kiêu sa, bài hát này quả là du dương, lãng mạn, và là một trong hằng trăm, hằng nghìn bản nhạc tình muôn thuở có giá trị vượt thời gian và không gian của nền âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng thử hỏi, nếu không có cái nền móng là một Việt Nam Cộng Hòa thái bình và thịnh trị (từ 1954 tới 1975) thì cuộc tình đẹp như mơ kia trong nhạc phẩm đó có thể hiện hữu và tồn tại hay không? Sẽ là vô nghĩa và không thể nào tồn tại được những hoàn cảnh, tình huống và tâm tình của đôi trai gái yêu nhau qua những mỹ từ trong bài hát, như “trăng sao, lời thơ nuối, mộng ngời, se tơ kết tóc, vui tiếng hát vói đường dài, ngâm khẽ tiếng thơ, đôi môi đã quyết trói đời người, cánh tay đan vòng tình ái, tới chín tầng mây khói, se duyên vượt biển ngoài, lâu đài tình tôi…” nếu Miền Nam Việt Nam trong khói lửa chiến chinh trước năm 1975 không phải là thiên đàng của tuổi trẻ.
    Đây chỉ là một ví dụ đơn giản và tình cờ trong muôn nghìn ví dụ khác về sự thể nền văn chương và âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa phản ảnh trung thực cuộc sống ấm no, phồn thịnh và đạo đức của người dân Miền Nam Tự Do thời Chiến Tranh Việt Nam mà thôi. Người ta cũng có thể dễ dàng tìm thấy sự phồn vinh của xã hội, niềm hạnh phúc của con người, vẻ đẹp của non sông, cũng như tấm lòng đạo đức, bản tính hiền hòa, lòng yêu nước, tình quê hương… của dân chúng Miền Nam Tự Do qua vô số các ca khúc khác nữa trong kho tàng âm nhạc của Miền Nam Việt Nam: Tình Lúa Duyên Trăng (Hoài An & Hồ Đình Phương), Khúc Ca Ngày Mùa (Lam Phương), Trả Lại Em Yêu (Phạm Duy), Anh Về Thủ Đô (Y Vân), Bài Ca Chiến Thắng (Minh Duy), Dựng Một Mùa Hoa (Hoài An & Phó Quốc Thăng), Nha Trang (Minh Kỳ), Dòng An Giang (Anh Việt Thu), Ai Lên Xứ Hoa Đào (Hoàng Nguyên), Ai Ra Xứ Huế (Duy Khánh), Lối Về Xóm Nhỏ (Trịnh Hưng), Ly Rượu Mừng (Phạm Đình Chương), Hoa Xuân (Phạm Duy), Cánh Thiệp Đầu Xuân (Lê Dinh & Minh Kỳ), Lưu Bút Ngày Xanh (Thanh Sơn), Bên Nhau Ngày Vui (Quốc Dũng), Con Đường Tình Ta Đi (Phạm Duy), Hai Mùa Noel (Đài Phương Trang), Lâu Đài Tình Ái (Trần Thiện Thanh), Ơn Nghĩa Sinh Thành (Dương Thiệu Tước), Nửa Đêm Biên Giới (Anh Bằng)… Còn nhiều, nhiều nữa những niềm hạnh phúc và sung sướng mà dân chúng Miền Nam Tự Do từng được vui hưởng dưới cả hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam giữa lúc phần đất này của thế giới đang đắm chìm trong cuộc chiến một mất một còn với chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Thật là một điều kỳ diệu.
    Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo
    Và tâm điểm của cái điều kỳ diệu đó chính là: Ngay giữa lúc cuộc chiến tranh đang đến hồi khốc liệt nhất mà thế giới từng biết tới, các quan sát viên quốc tế cũng như các nhà báo có dịp đặt chân đến nhiều nơi tại Miền Nam Việt Nam đều ghi nhận rằng người dân từ Bến Hải tới Cà Mau vẫn an hưởng một cuộc sống thanh bình, thịnh vượng, bất kể chiến sự đang diễn ra khốc liệt trên các mặt trận không cách xa các đô thị và tỉnh thành nhộn nhịp bao nhiêu, trong khi người dân tại những nơi này vẫn có thể nghe được tiếng “đại bác đêm đêm dội về thành phố.” Cái “an bình trong thời chiến” này được coi như đã khởi sự từ lúc Tổng Thống Ngô Đình Diệm lên chấp chánh tại Miền Nam Việt Nam hồi Tháng Bảy năm 1954, trải dài qua suốt nền Đệ Nhất Cộng Hòa và cuộc đảo chánh sát hại Tổng Thống Ngô Đình Diệm hồi tháng 11 năm 1963, rồi tiếp tục cho tới thời quân đội chấp chánh cũng như thời Đệ Nhị Cộng Hòa, và chỉ chấm dứt sau khi Miền Nam Việt Nam sụp đổ trước cuộc tổng tấn công của Cộng Sản Bắc Việt xâm lược hồi Tháng Tư năm 1975, sau khi Đồng Minh Hoa Kỳ đã “tháo chạy” từ đầu năm 1973, sau Hiệp Định Paris.
    Ngày đó, trước năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa, dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm (1954-1963), đã được hơn 50 quốc gia trên thế giới chính thức công nhận, và nhà lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa công du đến đâu cũng được nghênh đón, trọng vọng, từ Hoa Kỳ và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) cho tới Úc Đại Lợi và Đại Hàn Dân Quốc (Nam Hàn). Ngày đó, nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa tràn đầy giá trị nhân bản, và trình độ giáo huấn tại các học đường không hề thua kém bất cứ quốc gia tiên tiến nào trên thế giới. Học sinh Việt Nam phải học đức dục trước khi học công dân giáo dục, phải biết lễ, nghĩa, liêm, sỉ trước khi ra ngoài đời, phải biết thờ mẹ, kính cha, nhường nhịn anh, chị em trong nhà trước khi dấn thân phục vụ xã hội. Ngày đó, tuy nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa chưa phát triển mấy và công, kỹ nghệ trong nước đang còn phôi thai, dân chúng Miền Nam Việt Nam đã hưởng được một cuộc sống no cơm, ấm áo, quân nhân, công chức đi làm ai cũng đủ sức bao biện cho vợ con ở nhà, và ngay cả giới phu phen, thợ thuyền cũng vẫn rủng rỉnh đồng ra, đồng vào cuối một ngày lao động, đừng nói gì tới giới tiểu thương và doanh gia.
    Ngày đó, tôn ti, trật tự xã hội được tôn trọng, dân chúng Việt Nam Cộng Hòa hiền hòa ai cũng biết lễ nghĩa, liêm sỉ, học trò thì kính thầy, mến bạn, công, tư chức đi làm thì cần kiệm, thanh liêm, chuyện tham nhũng được coi là điều xấu hổ, điếm nhục gia phong. Trong xã hội, ai cũng muốn sống sao cho lương thiện, thầy giáo ra thầy giáo, bác sĩ ra bác sĩ, và các nhà tu hành không hề nghĩ tới chuyện đội lốt nhà tu để lường gạt tín đồ, đừng nói chi đến làm chính trị để khống chế chính quyền theo mưu đồ của cộng sản trong sách lược lâu dài của họ là thôn tính Miền Nam Việt Nam. Ngày đó, lâu lâu cũng có cảnh đấu tranh, xuống đường, hoan hô, đả đảo của sinh viên, học sinh cũng như của các nhà tu hành, nhưng những thành phần đối lập với chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không hề bị đàn áp dã man theo cái kiểu hiện đang diễn ra sờ sờ trước mắt từ Miền Nam cho tới Miền Trung và Miền Bắc bây giờ.
    Ngày đó, nền văn hóa và nghệ thuật Việt Nam đang ở đỉnh cao. Các minh tinh, tài tử Việt Nam luôn sáng ngời trên vòm trời điện ảnh Á Châu, và các lực sĩ Việt Nam thường chiếm nhiều giải thưởng cao quý trên vận động trường quốc tế, đặc biệt là trong hai bộ môn bóng bàn và bóng tròn. Về âm nhạc, cho tới nay, những nhạc phẩm và ca sĩ trước 1975 tại Miền Nam Việt Nam vẫn luôn được đánh giá cao, tới mức vượt thời gian và không gian. Về văn chương, những tác giả và tác phẩm thời đó vẫn được các thế hệ sau này, cả hải ngoại lẫn trong nước, trân trọng và ngợi ca. Các bộ môn báo chí, phim ảnh, tân nhạc, hát bội, cải lương và kịch nghệ thời đó thật đa dạng, muôn màu, muôn sắc, đua nhau nở rộ trong vườn hoa tư tưởng và nghệ thuật của Miền Nam Tự Do, vốn luôn dành đất sống thênh thang cho giới văn nghệ sĩ, kể cả những kẻ có tư tưởng phản chiến một thời như Trịnh Công Sơn.
    Ngày đó, Sài Gòn đang giữ ngôi vị “Hòn Ngọc Viễn Đông,” như lời nhạc “người ơi, Sài Gòn chốn đây là Ngọc Viễn Đông vốn đã lừng danh...” của Văn Phụng trong bài “Ghé Bến Sài Gòn,” và đường sá tại Sài Gòn --cũng như tại các thành thị khác trong nước-- dù luôn đông đúc những người và xe cộ, vẫn đẹp đẽ, sạch sẽ, tươm tất, như được diễn tả qua ý nhạc trong ca khúc “Sài Gòn” của Y Vân: “Ngựa xe như nước trên đường vẫn qua mau, người ra thăm bến câu chào nói xôn xao, phố xá thênh thang đón chân tôi đến chung vui... Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi...” Tại các thành thị Miền Nam Việt Nam, đường sá luôn được bảo trì tốt, và các phương tiện chuyên chở công cộng --như xe buýt và xe lam-- được dân chúng sử dụng nhiều hơn, cho nên, sau cơn mưa, trời luôn trở lại sáng trên đường phố Sài Gòn và các thành thị khác, chứ không hề có cảnh tối tăm, ngập lụt, bì bõm và sặc mùi xú uế như bây giờ. Ngày mất Sài Gòn, nhạc sĩ Nam Lộc đã nghẹn ngào, nức nở: “Sài Gòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời. Sài Gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời...”
    Ôi! Một thời an bình và thịnh trị trong lịch sử Việt Nam đã qua rồi! Biết đến bao giờ mới tìm lại được nét vàng son xưa và nghe lại được tiếng xưa đây? Đâu có ai ngờ rằng, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi có hai thập niên thôi, đất nước và dân tộc Việt Nam, mặc dù đang bị cuộc chiến tranh xâm lược của cộng sản Bắc Việt gieo tang tóc, điêu linh khiến cho nhà tan, cửa nát, dân chúng Miền Nam Việt Nam đã được hưởng những tháng, năm huy hoàng như thế, với một nền văn hóa và văn minh ngời sáng hơn bao giờ hết. Cái di sản văn hóa và văn minh mà Miền Nam Tự Do để lại cho dân tộc Việt Nam thật là to lớn, và có thể nói rằng chưa thấy thời đại nào trong lịch sử dân tộc có thể sánh kịp với thời đại đã vội qua đi kia, với đền đài, biệt thự tráng lệ, với đường phố thênh thang, với quan chức thanh liêm, mẫu mực, với binh hùng, tướng mạnh “sinh vi tướng, tử vi thần,” với trai thanh, gái lịch, với rể hiền, dâu thảo, con ngoan... 
    Nhớ ơn các chiến sĩ đã hy sinh xương máu để bảo vệ Việt Nam Cộng Hoà.
    Nhưng những điều kỳ diệu nói trên trong cuộc sống thái bình, thịnh trị của Việt Nam Cộng Hòa giữa lúc đất nước đang có chiến tranh do đâu mà có? Xin thưa, đó là do không biết bao nhiêu xương máu đã đổ ra, trước hết là của các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và kế đó là của các chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia, hai thành phần nòng cốt trong cuộc “kháng chiến thần thánh” chống quân Cộng Sản xâm lược của nhân dân Miền Nam Việt Nam, hai lực lượng luôn đứng ở đầu sóng, ngọn gió trong suốt cuộc Chiến Tranh Việt Nam kéo dài gần hai thập niên để bảo vệ cho cuộc sống an bình và thịnh vượng của dân chúng Miền Nam Tự Do.
    Phải biết rằng cuộc chiến đấu anh dũng của hơn 20 triệu dân chúng Miền Nam trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam chống lại cuộc xâm lăng tàn bạo và khốc liệt của cộng sản quốc tế không phải chỉ do Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đơn độc đảm nhận mà còn là do công sức của toàn thể quân, dân, cán, chính Miền Nam Việt Nam đóng góp, trong đó phải kể đến các lực lượng như Cảnh Sát Quốc Gia, Xây Dựng Nông Thôn, Dân Vận Chiêu Hồi… Và, khác hẳn với bất cứ lực lượng Cảnh Sát nào của thế giới --kể cả Cảnh Sát Mỹ là ngành dân sự không bao giờ chiến đấu ngoài mặt trận-- lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa luôn nổi bật lên là thành phần chiến đấu nòng cốt, trực tiếp sát cánh với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trên mọi chiến trường gai lửa từ tiền tuyến tới hậu phương. Có thể nói rằng, trong khi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa được giao phó sứ mạng chống đánh quân thù ngoài tiền tuyến thì Cảnh Sát Quốc Gia giữ nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho dân chúng và các cơ cấu chính quyền tại hậu phương.
    Tiền tuyến có sạch bóng quân thù thì hậu phương mới yên ổn làm ăn, và hậu phương có bảo đảm an ninh thì tiền tuyến mới yên tâm diệt giặc. Rồi khi hậu phương bỗng biến thành tiền tuyến, như trong trường hợp vụ Biến Động Miền Trung năm 1966 và cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân năm 1968, các lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia, đặc biệt là các đơn vị Cảnh Sát Dã Chiến được huấn luyện kỹ càng và trang bị đầy đủ, đã hiên ngang cầm súng ra tuyến đầu để sát cánh với quân đội trong nhiệm vụ bảo quốc, an dân. Trong những ngày lễ, những dịp vui chơi của người dân, kể cả những ngày Tết thiêng liêng tại Miền Nam Việt Nam, người chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia ít khi nào có cơ hội được an hưởng những giây phút vui chơi đó. Từ thủ đô Sài Gòn cho đến các tỉnh lỵ và quận lỵ trên toàn quốc, rất hiếm khi thiếu vắng những chiếc xe tuần cảnh hoặc những toán tuần cảnh bộ rong ruổi ngày đêm trên khắp mọi nẻo đường hầu bảo đảm an ninh, trật tự và cuộc sống an cư, lạc nghiệp cho dân chúng.

    Thay lời kết
    Trước thềm năm mới Xuân Mậu Tuất và trước viễn tượng tổ quốc Việt Nam, chẳng sớm thì muộn, sẽ rơi vào ách cai trị của Cộng Sản Trung Hoa trong đợt Bắc thuộc lần thứ 5 mà chưa biết đến bao giờ mới thoát ra được, những người Việt quốc gia chân chính, trong tâm tình luyến tiếc khôn nguôi chế độ Việt Nam Cộng Hoà vàng son xưa mà nay khó có hy vọng quay trở lại được, xin kính cẩn nghiêng mình trước anh linh các chiến sĩ Hải, Lục, Không Quân, Lực Lượng Đặc Biệt, Địa Phương Quân và Nghĩa Quân thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, các chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia, Xây Dựng Nông Thôn và Dân Vận Chiêu Hồi, cùng hằng nghìn chiến sĩ quốc gia khác đã từng cầm súng chiến đấu chống quân xâm lược cộng sản và đem chính máu đào của mình ra bảo vệ bờ cõi đất nước Việt Nam cho đến ngày định mệnh ra tay giáng đòn chí tử lên dân tộc Việt Nam qua biến cố 30 Tháng Tư năm 1975 đau thương đó.
    Người Việt hải ngoại, được may mắn sống sót sau hai cơn “đại hồng thủy” năm 1975 mất nước  vào tay Cộng Sản Bắc Việt và năm 2020 mất nước vào tay Trung Cộng vì Thoả Hiệp Thành Đô 1990, hãy vững tin rằng, sau khi đất nước bị xóa sổ, chỉ còn nền văn minh và văn hóa Việt Nam Cộng Hòa trước đây tồn tại mà thôi, chứ sẽ không có ai đoái hoài tới những gì còn sót lại từ hai chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sắt máu và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam “cả nước xuống hố” vì bị Trung Cộng vừa xâm chiếm lãnh thổ vừa bao vây kinh tế đến kiệt sức để rồi đành phải bán nước cho họ theo đúng quy luật “hạ tầng kinh tế quyết định thượng tầng chính trị.” Hai Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama và Donald Trump đến thăm Việt Nam trong các năm 2016 và 2017 và được dân chúng Việt Nam ngưỡng mộ, không bị ai thúc giục mà vẫn đổ ra đường đón tiếp họ thật nồng nhiệt, chẳng phải vì hai vị tổng thống này có tài ăn nói hay ho gì hoặc đem lại lợi lộc lớn lao gì cho người dân Việt Nam mà là vì họ mang hình ảnh của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, hai đối tượng sáng giá mà dân chúng Việt Nam luôn ước mơ, tiếc nhớ. Và Việt Nam Cộng Hòa chính là cái thiên đàng đã mất của toàn thể dân tộc Việt Nam. Hiện tượng một số người dân Việt Nam bây giờ ưa mặc trang phục người lính Cộng Hòa năm xưa hoặc giương cao lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa, cùng với phong trào giới trẻ đua nhau ca hát “nhạc vàng Bolero” trên các sân khấu ca nhạc Việt Nam từ Nam chí Bắc, là bằng chứng hùng hồn nhất cho thấy nền văn minh và văn hoá ưu việt của Việt Nam Cộng Hòa vẫn tồn tại và được tôn vinh trong xã hội Cộng Sản Việt Nam ngày nay.   
    Những người Việt tị nạn đang định cư trên khắp năm châu, bốn biển hãy luôn luôn ghi nhớ rằng, dù Việt Nam Cộng Hòa đã cáo chung, chính cái danh thơm, tiếng tốt và chính nghĩa sáng ngời của thực thể này đã mạnh mẽ thuyết phục cộng đồng quốc tế nhanh chóng và rộng lượng đón nhận hằng triệu người Việt, vừa di tản vừa vượt biên, vượt biển tìm tự do, vào đất nước của họ. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, xin những người Việt quốc gia chớ quên đi nguồn cội Việt Nam Cộng Hòa và cũng đừng bao giờ quên đi cái căn cước tị nạn của mình, để rồi có những hành động phản bội đất nước cũ cùng những hy sinh vô bờ bến của tất cả quân, dân, cán, chính trong cuộc chiến đấu bảo vệ sự sinh tồn của Việt Nam Cộng Hòa, đôi khi chỉ nhằm đổi lấy chút bã vinh hoa phù phiếm hay chút quyền lợi vật chất tầm thường do bên thắng cuộc đưa ra, với mục đích dụ dỗ và làm băng hoại các cộng đồng người Việt hải ngoại.
---------------------------------------------------------------------------------------






Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn