MÙA XUÂN TRÊN CAO NGUYÊN

25/02/20193:18 CH(Xem: 554)
MÙA XUÂN TRÊN CAO NGUYÊN
MÙA XUÂN TRÊN CAO NGUYÊN
          Sau lễ Giáng Sinh năm 1980, anh em trong trại tù Nam Hà C rỉ tai nhau là chúng ta sắp chuyển trại về nam. Trưa ngày 30 tháng 12, ban giám thị ra lệnh: tất cả “cải tạo viên”chuẩn bị tư trang để chuyển trại.
          Đoàn xe Molotova đưa chúng tôi đến sân ga Bình Lục lúc trời xâm xẩm tối. Sân ga lúc ấy đã có rất nhiều bạn đồng tù. Tôi vui mừng vì gặp lại Vũ ngọc Hải ở Nam Hà A rồi Lê Văn Ni ở trại B. Chúng tôi đang tíu tít hỏi thăm nhau thì có ai đó nói lớn: Anh Ni, Việt Nam Việt Nam. Lê Văn Ni tháo cây Guitar đang mang trên lưng xuống rồi cất cao giọng hát bài Việt Nam Việt Nam của nhạc sĩ Phạm Duy. Một nhóm bạn tù hát theo rồi lan tỏa khắp sân ga. Mấy tên quản giáo chạy tới chạy lui bắt ngừng hát, nhưng chẳng ai nghe. Chúng phải đưa cả trung đội võ trang với súng AK vào sân thổi còi inh ỏi anh em mới ngừng hát.
          Đến nửa đêm một đoàn tàu vào sân. Tất cả các đội được lệnh tập họp, hai người còng chung một chiếc còng nội hóa rồi lần lượt lên tàu. Khi sắp vào thành phố Huế, công an áp giải đi kéo cửa kính của toa tàu xuống. Chúng tôi đang thắc mắc sao chúng làm như thế thì tàu chạy chậm lại vì sắp qua cầu Bạch Hổ. Bỗng thấy đồng bào đứng hai bên đường ném bánh mì và thức ăn lên tàu cho tù, nhưng tất cả đều bị cửa kính gạt hết xuống đất. Chúng tôi đồng loạt đưa tay có còng lên để tỏ lòng cảm ơn lòng thương mến của đồng bào.
          Đến ga Diêu Trì, Bình Định, đoàn tàu dừng lại rồi bị cắt làm đôi. Nửa phía trước đoàn tàu tiếp tục xuôi nam. Phần còn lại, chúng tôi được lệnh xuống tàu rồi bị dẫn bộ đến Quốc Lộ 19. Xe chạy ngược lên đèo An Khê và đổ chúng tôi trước cổng trại K1 Gia Trung thuộc tỉnh Gia Lai-Kontum vào khoảng ba giờ chiều ngày 31 tháng 12 năm 1980..
          Trong thời gian chờ đợi được kiểm tra đồ đạc để nhập trại, tôi nhìn quanh một vòng để quan sát nhiệm sở mới và khung cảnh chung quanh. Trại nầy được thiết lập giữa một thung lũng, núi rừng trùng điệp chẳng thấy bóng dáng một căn nhà nào của dân. Nghe nói vùng nầy trước kia là mật khu của VC. Vòng rào quanh trại được dựng nên bằng tre nứa và củng cố thêm bằng dây kẽm gai. Giữa sân trại,một hội trường mái tranh vách ván khá lớn. Hai khu buồng giam được xây cất hai bên hội trường. Những buồng giam của khu A đều bằng tường gạch, mái ngói trông cao ráo sạch sẻ. Khu B vẫn còn là vách ván mái tôn thấp lè tè.
          Tôi được chuyển vào buồng 8 thuộc khu B. Chỗ nằm của tôi ở sạp trên tuy được yên tĩnh nhưng sợ không chịu nỗi sức nóng về mùa hè vì mái tôn quá thấp. Tôi nói với anh Quảng người nằm bên cạnh : “Mái tôn thấp như thế nầy thì đến mùa hè tụi mình sẽ bị nướng giòn như ổ bánh mì”. Anh ấy với vẻ mặt bình thản trả lời :
   - Bạn đừng lo, có một bản nhạc nào đó nói về vùng đất nầy: “Em Pleiku má đỏ môi hồng, ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông”. Tôi đã từng đi hành quân ở vùng nầy, khí hậu từ mát đến lạnh quanh năm.
          Về trại nầy, cảm giác đầu tiên của chúng tôi là tự ái bị xúc phạm nên phẩn nộ trong lòng.Suốt hơn 5 năm tù phải chuyển qua nhiều trại,tôi chưa thấy trại nào cắt đặt tù làm “trật tự viên”cả.Nay thấy có trật tự viên mà lại là tù hình sự.Bọn nầy là tay chân của công an trực trại,chúng dựa thế để hống hách,đôi khi còn đánh cả tù cải tạo nữa.Đây là một hình thức mà bọn cai tù dùng để sĩ nhục quân cán chính VNCH.
          Sau bữa ăn chiều,tôi đang loay hoay sắp đặt lại đồ đạc nơi chỗ nằm thì Phạm Bá Lộc tìm tới.Bạn ấy rút trong túi ra một tấm giấy nhỏ dúi cho tôi bảo :”Đọc đi,thư của một bạn tù cũ ở đây chuyển qua hàng rào đó”.Thư viết :”Chào các anh từ các trại miền bắc.Các anh đã về tới địa ngục trần gian.Coi chừng hai tên công an trực trại,chúng luôn tìm cớ để đánh tù.Tên Quý có biệt hiệu là “tư búa”,hắn thường đi quanh trong trại với cái búa sắt trong tay.Hể bắt gặp ai vi phạm điều gì dù nhỏ nhặt,chẳng hạn đứng gần hàng rào cũng đủ để nó đánh bằng búa.Còn tên Phòng có biệt danh là “quảng đục”,người nào làm cho hắn gai mắt là nó sai mấy tên trật tự bắt về phòng trực trại để lãnh một trận đòn hội chợ.Mấy lời thăm hỏi và cảnh báo đến các anh.Chúc các anh được vạn sự an lành.Xem xong hủy đi.Chào”.Xem xong,tôi xé nát tấm giấy rồi vào phòng vệ sinh vứt vào hố xí.

          Qua mấy ngày học tập nội quy,viết lý lịch trích ngang,đó là thủ tục nhập môn mà trại nào cũng có,chúng tôi bắt đầu đi lao động.Một khu rừng rộng chừng 30 mẩu phía bên trái trại đã được phát quang từ những năm về trước để trồng khoai sắn.Thời gian nầy chưa phải là mùa trồng trọt nên chúng tôi đi đào gốc cây.Đất ở vùng nầy ngỗn ngang những gò mối nên quá cứng,đào được một gốc cây cũng thấy rêm cả người.Gốc cây đào lên được chất đống và đốt đi.
          Mới lao động chừng tuần lễ mà đã có chuyện xảy ra.Một buổi chiều đi làm ở ngoài rừng về,chúng tôi hay tin Lâm Quan Trọng và Nguyễn Ngọc Hải ở buồng bên cạnh bị quản chế dẫn từ nơi lao động về phòng trực trại.Chúng đánh hội đồng hai anh ấy cho đến lúc đứng dậy không nổi.Lâm Quan Trọng,Thám Sát tỉnh Vũng Tàu,tôi biết anh ta từ trại Nam Hà nhưng không thân.Còn Nguyễn Ngọc Hải,đại úy Cảnh Sát có thời là Đại Đội Trưởng Cảnh Sát Dã Chiến BCH/CSQG thị xã Đà Nẵng là bạn đồng nghiệp của tôi.Qua phòng bên thăm Hải và Trọng,tôi thấy hai bạn nằm như bất động,mặt mày mình mẩy bị sưng tím nhiều nơi.Một số bạn tù đang vây quanh hai người bị nạn,vừa xoa bóp dầu nóng vừa hỏi chuyện.Theo lời Hải thì trong giờ giải lao,hai anh em ngồi sau đống lửa vừa chuyện trò vừa sưởi ấm.Cả hai không nghe lệnh trở lại làm việc.Tên quản giáo gọi Hải và Trọng đến la lối xỉ vả rồi khép tôi chống đối lao động.Sau khi Hải và Trọng bị đánh nhừ tử,tên Quý chỉ tay vào hai người quát :”Tao nói cho chúng mày biết,với trại nầy không có chuyện nặng giáo dục nhẹ trừng trị đâu nhé.Ở đây là nặng về trừng trị mà nhẹ về giáo dục,nghe chưa?”.
          Tôi trở về buồng nằm nghỉ chờ bữa ăn chiều mà đầu óc cứ suy nghĩ mông lung.Nhớ đến mấy lời của một bạn nào đó lúc chúng tôi mới chuyển về đây quả là sự thật chứ chẳng phải lời hù dọa.Thật tội nghiệp cho thân phận của quân cán chính VNCH.Không chỉ bại trận mà còn mất nước nên mới bị kẻ thắng cuộc đọa đày sĩ nhục.

          Những ngày cuối năm trên cao nguyên trời lạnh đến tê cóng người.Buổi chiều mặt trời lặn khuất sau núi rừng thật nhanh.Cảnh vật chìm dần vào màng sương mờ ảm đạm.Sau buổi ăn chiều,phần đông rút vào buồng nghỉ ngơi,chuyện trò chờ hồi kẻng báo giờ điểm danh.Tôi lửng thửng đi vòng ra sau dãy buồng giam.Ngồi xuống trên một băng ghế gỗ.Mặt ghế lạnh ngắt khiến tôi tỉnh người.Buồn thật,bạn tù bị bọn cai ngục đánh đập dã man mà cả trại cũng như chính bản thân tôi chỉ ôm nỗi phẩn uất trong lòng.Những bất công của cuộc đời mãi đè nặng trên người thất thế.Người lính miền nam đang bị lưu đày trên chính giang sơn của mình.Đau quá.
          Sau trận đòn thù của cai tù đối với Trọng và Hải,không khí trong trại càng nặng nề,u ẩn hơn.Các đội xuất trại đi lao động và trở về lặng lẽ như những bóng ma.
      
          Mùa đông sắp tàn,trên đường ra nương rẫy những nụ hoa rừng bắt đầu hé nở để chuẩn bị đón xuân về.Năm hết tết đến làm tôi nhớ về các con nhiều hơn.Mùa xuân năm 1975 mới đó mà đã lui tới đến sáu lần.Hồi đó ,thằng Nhân đứa con đầu lòng đang học lớp mẩu giáo cứ quanh quẩn bên tôi bi bô hát mấy câu mà các bà Xơ trường Thánh Tâm dạy cho :
                      “Gặp ba con đến liền,ba ơi ba,ba thật là hiền
                        Gặp ba con đến liền,ba ơi ba,ba thật là duyên
                        Đầu năm,xin ba í a lì xì
                        Cho con xin cái chi,đừng có không cái gì…”
Hai đứa em nó,thằng Nghĩa lên ba và con Trâm đang chập chững biết đi cũng tung tăng nhảy nhót.Mùa xuân với hoa vàng mức bánh,với tiếng reo cười của trẻ thơ dưới bầu trời tự do đã khép lại.Rồi bé Trang chào đời sau bốn tháng tôi đi “học tập” không biết mặt nó thế nào và khi bập bẹ tiếng nói đầu đời,không có cha để tập gọi tiếng “ba” ? Tôi cố mường tượng hình ảnh các con sinh hoạt trong mấy ngày tết,nhưng không hình dung được,chỉ những hình ảnh cũ quay về.

          Chiều 30 tết, mỗi người tù được cấp phát một chiếc bánh chưng vuông vắn mỗi cạnh chừng 10cm.Ngày mồng một và mồng hai được nghỉ lao động và “ăn tươi”.Hồi mới vào trại,nghe nói “ăn tươi” tôi thầm nghĩ :không lẽ họ phát thức ăn còn sống cho tù?Nhưng rồi cũng vỡ lẽ.Những ngày lễ,ngày tết tiêu chuẩn ăn  uống khá hơn,được ăn cơm không độn khoai sắn,thức ăn có rau xanh,đồ xào mà hấp dẫn nhất là mấy lát thịt mở.Thế là ăn tươi của tù.Qua nhiều năm đọa đày đói khổ ai cũng gầy trơ xương,dưới lớp da đen sạm không còn chút mở dự trử nào nên khiến người tù thèm mở hơn thèm thịt nạt.
          Tối lại,chúng tôi được tâp trung lên hội trường để thưởng thức chương trình văn nghệ mừng xuân do đội văn nghệ phân trại K2 sang trình diễn.Từ ngày chúng tôi bị chuyển sang trại tù do công an quản lý nay mới thấy lại tù làm văn nghệ mừng xuân.Hầu hết diễn viên đều là tù hình sự,nhưng nhóm biên soạn và đạo diễn là tù “văn nghệ sĩ phản động”trong đó tôi nhớ có thi sĩ Trần Dạ Từ.Họ trình diễn đủ mọi thể loại : Ca,vủ,nhạc,kịch,cải lương,hòa tấu,độc tấu…Bỏ qua những tiết mục có nội dung tung hê chế độ,buổi trình diễn thật xuất sắc.Những người tù hình sự nầy ở ngoài xã hội cũng là những có tài nhưng không thích hợp với chế độ cộng sản mới bị vào tù.Phân trại K1 chỉ đóng góp một tiếc mục độc tấu guitar.Người trình bày là một tù nhân chính trị còn rất trẻ tên Tuấn.anh trình diễn khá điêu luyện.Người tù nầy mới 20 tuổi mà đã ở tù đến bốn năm.Ba của Tuấn là một đại úy Cảnh Sát đi tù cải tạo sau tháng 4 năm 1975.Năm 1976 Tuấn gia nhập tổ chức “Phục Quốc”,bị bắt rồi chuyển về giam giữ ở trại nầy.
          Sau buổi diễn, gặp Tuấn ngoài sân, tôi hỏi :
   - Có lẽ em học đàn từ bé nên ngón đàn mới điêu luyện như vậy?
   - Em vào tù rồi mới học đàn, cách đây ba năm em chuyển về trại nầy được ở chung buồng với Giáo Sư Nguyễn Sĩ Tế, ông thương và dạy cho em đàn.
          Không ngờ Giáo Sư Nguyễn Sĩ Tế viết báo, viết văn hay mà lại còn giỏi âm nhạc nữa. Những con người trí thức tài hoa như Giáo Sư Nguyễn Sĩ Tế, nhà văn Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh… đều bị mai một trong tù. Giáo Sư Mai Văn Lễ đang ở chung trại với tôi chỉ vì ông là Khoa Trưởng Đại Học Luật Khoa Huế. Những tinh hoa miền nam đang bị cộng sản khóa chặt tài năng trong các trại tù cải tạo. Câu nói : “Giá trị của bọn trí thức không bằng cục phân” của Mao Trạch Đông là khuôn vàng thước ngọc cho Hồ Chí Minh và hậu duệ của ông ta. Cho nên khi chiếm được nửa nước phía bắc năm 1954, họ Hồ đã gài bẩy để trí thức Bắc Hà như Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Phùng Quán, Phan Khôi, Thụy An…thành lập nhóm Nhân Văn Giai Phẩm rồi gom hết vào tù. Lịch sử đau thương của nền văn học Việt Nam tái diễn tại miền nam sau năm 1975. Rõ ràng CSVN đã đặt giới trí thức vào vị thế kẻ thù của họ. Tôi vẫn nhớ mãi câu nói của viên trại trưởng ở trại tù An Dưỡng Biên Hòa : “Chúng tôi không cần người tài năng, chúng tôi chỉ cần người trung kiên”.
          Một chế độ mà không trọng dụng nhân tài thì nhân sự của họ chỉ toàn những kẻ thất phu, vô học. Những hạng người nầy thì vơ đâu cũng có, chỉ cho chúng một chút quyền lợi thì chúng trung thành cho đến chết.
          Sáng mồng một tết, khi đi mở cửa cho các buồng giam, tên trật tự thông báo cho mọi người không được ra sân, chờ ban giám thị đến từng buồng chúc tết. Chúng tôi chán ngấy trò hề nầy đã nhiều năm nên mong màn trình diễn chóng qua để anh em nhóm năm nhóm ba trà lá chuyện trò với nhau vui hơn. Nhưng khi ban giám thị đến buồng giam ngay trước buồng giam của tôi chừng năm phút thì nghe tiếng quát tháo, có lẽ của tên trại trưởng. Sau đó thấy hai tên trực trại Phòng và Quý lôi một người tù về phía phòng kỹ luật.
          Chờ cho bọn cai tù ra khỏi cổng trại, chúng tôi ra sân hỏi han sự việc. Có người kể: Sau khi trại trưởng chúc tết cho tù, buổng trưởng chúc tết đáp trả. Tưởng xong thủ tục rồi thôi, không ngờ tên trưởng trại hỏi : “Có ai biết bản nhạc Xuân Nầy Con Không Về thì hát cho mọi người nghe”. Một người tình nguyện hát giúp vui. Nhưng hát đến câu “Bao lớp trai hùng cùng ra chiến trường” anh đổi lời thành “Bao lớp trai hùng cùng đi cải tạo”. Nghe đến đó, tên trại trưởng bắt ngừng lại và quát tháo : “Các anh mà trai hùng à ? Các anh là ngụy quân ngụy quyền, là phản cách mạng, là phản động…”. Rồi y ra lệnh cho trực trại đem người ca sĩ bất đắt dĩ ấy đi cùm bảy ngày trong phòng kỹ luật. Được biết mỗi khi vào phòng kỹ luật của trại nầy thi tù nhân trước khi đưa chân vào cùm phải nhận lãnh một trận đòn đến mềm người của hai tên trực trại.
          Ngày mồng ba tết cai tù lại khua chiêng, gióng trống hô hào “ra quân mừng xuân dâng đảng” thúc dục các đội đạt và vượt chỉ tiêu trên giao. Mặc cho cai tù ì xèo thúc hối, chúng tôi vẫn cứ lầm lũi làm công việc “nước sông công tù”. Lòng dạ gần như chai đá chẳng còn xúc cảm trước ngàn cây đang đâm chồi nẩy lộc. Chán quá, mới chuyển về đây chưa tròn hai tháng mà người thì bị đánh đập, kẻ vào phòng biệt giam. Thế mà tôi trãi qua bốn mùa xuân trong địa ngục trên chốn Cao Nguyên nầy. Đến gần cuối năm 1984 tôi mới thoát được cái thiên đường “cải tạo”.

K1.Tống Phước Kiên
Tháng 10 năm 2017                   

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn