BUỔI CHIỀU

25/02/20193:52 CH(Xem: 579)
BUỔI CHIỀU
Buổi Chiều ...

LGT: Tác giả là cựu học sinh trường Trung Tiểu Học Trung-Thu do Tồng Nha CSQG thành lập năm 1957. Sau 1975, ông bị đuổi học khỏi trường đại học kỹ thuật Phú Thọ vì lý lịch gia đình. Tự nghiên cứu về hàng hải và thủy động cơ, dù chưa kinh nghiệm một ngày đi biển, một mình ông lái tàu (thuyền trưởng SS1257#IA, P.B 669) chở 109 người vượt biển từ cửa sông Vàm-Láng đến Mã-Lai tháng 8/1982 sau 104 giờ hải hành dọc theo hải phận quốc tế và gặp 6 thương thuyền ngoại quốc nhưng không được vớt. Trong thời gian 7 tháng ở trại tỵ nạn Pulau Bidong, ông cộng tác trong vai trò Trưởng khối Giáo dục điều hành hệ thống trường học trên đảo. Định cư tại Melbourne, Australia từ đầu năm 1983. Ông hiện là Giáo sư Kinh tế & Tài chánh tại một số trường đại học ở Úc và Trung-Đông, và đang cộng tác trong ban Biên tập (editorial board) và duyệt bài (peer reviewer) cho hai tạp chí quốc tế là American Journal of Economics, Finance and Management và International Journal of Economics and Business Administration. Những bài viết tiếng Việt của ông chỉ phổ biến giới hạn trong một số thân hữu chứ chưa đăng trên bất cứ báo hay tạp chí nào. Bài này được viết trong dịp kỷ niệm ngày Quốc-Hận 11 năm trước, 30/4/2006.

    Cứ mỗi buổi chiều bà Tư bắt chiếc ghế đẩu ngồi tựa cửa, một chân co lên một chân thòng xuống, miệng nhai trầu ngồm ngoàm, mắt hướng nhìn mông lung ra ngôi chợ chồm hỗm phía trước nhà. Bà không biết rõ ngôi chợ này được bắt đầu nhóm từ lúc nào khi dọn về sống tại khu cư xá Vĩnh Hội này từ những năm đầu của thập niên sáu mươi sau khi chồng bà, ông Tư, một cảnh sát viên công lộ, đã mất trong một tai nạn lưu thông khi đang thi hành công tác. Bà buồn khi phải sống với những kỷ niệm vây quanh nơi căn nhà cũ nên đã dọn về sống tại khu cư xá này.

    Bà Tư vẫn thủ tiết thờ chồng nên ngày ngày hủ hỉ với hai đứa con, một gái một trai mà bà đã có với ông Tư. Đứa con gái lớn tên Thế, tròn trèm hai mươi cái xuân xanh, sau khi tốt nghiệp xong bậc trung học thì ở nhà phụ may vá với bà để kiếm sống qua ngày cũng như gắng nuôi thằng em trai tên Thời đang theo học bậc trung học đệ nhị cấp tại trường Trung Tiểu Học Trung-Thu, một trường công lập do Tổng Nha Cảnh Sát lập ra dành cho con em của gia đình cảnh sát, trên đại lộ Thành Thái, cạnh bên trường Đại học Sư Phạm, và nằm ngay sau lưng Bác Ái Học Viện của người Hoa.

Thằng Thời dáng dong dỏng cao, hiền lành và đẹp trai giống y chang như tấm hình của ông Tư trên bàn thờ mà bà Tư để ở giữa nhà. Bà Tư thương thằng Thời ghê lắm, vì nó là giọt máu mà ông Tư để lại cho bà. Nó vừa giống ông Tư như khuông đúc, mà tánh tình lại cũng hiền hậu nhưng ngang tàng giống hệt cha nên bao nhiêu thương yêu dành cho chồng, bà đều đổ dồn hết cho Thời. Nó muốn gì bà cũng đều chìu theo vì thương con, nhưng Thời cũng là đứa hiểu biết và biết
rõ gia cảnh nghèo khó của gia đình nên không vòi vĩnh gì quá đáng, gây khó khăn cho bà và chị nó.

Trong khu cư xá Vĩnh Hội này, Thời chỉ có một người bạn thân thiết nhất là Danh, học cùng lớp cùng trường với nó; nên hai đứa thường đèo nhau đi học chung bằng xe đạp, khi thì xe của đứa này, khi thì xe của đứa kia, khi thì mỗi đứa đạp một chiếc chạy song song bên nhau. Hai đứa chơi với nhau thân lắm, như hai anh em ruột. Thỉnh thoảng đứa này qua nhà đứa kia học chung với nhau buổi tối, rồi ngủ luôn lại qua đêm. Thằng Danh cũng rất siêng học và học giỏi có tiếng ở Trung-Thu, lại vừa nói năng lễ phép, biết kính trên nhường dưới và chơi với bạn chí tình nên bà Tư cũng rất thương mến nó, xem như con ruột của bà.

Cứ mỗi buổi chiều tan học lúc 5 giờ, hai đứa đạp xe theo lộ trình quen thuộc hàng ngày, từ đường Thành Thái, quẹo phải Cộng Hòa, băng ngang Võ Tánh đến đại lộ Trần Hưng Đạo quẹo trái; chạy thẳng tuốt xuống gần bồn binh Quách Thị Trang thì rẽ phải vào đường Calmette. Chạy băng qua cây cầu đúc, đi dọc bờ sông Bến Vân Đồn rồi quẹo trái vào đầu xóm hãng phân để tiến vào khu chợ chiều đã lưa thưa người, được tạo thành bởi hai dãy cư xá cảnh sát ở hai bên. Nhà thằng Thời ở phía đầu dãy tầng trệt bên trái của khu cư xá.  Chiều nào cũng vậy, khi hai đứa về đến đầu chợ thì kim đồng hồ vào khoảng 5 giờ rưỡi và cả hai đều nhìn thấy bà Tư đã ngồi tựa cửa trước nhà từ lúc nào. Cũng vẫn một thế ngồi như thường khi, một chân co lên trên ghế, một chân buông thỏng xuống, hai tay đan lại để trên đầu gối của chân co. Mắt bà sáng rỡ và gương mặt nở nụ cười thật tươi và hiền hòa khi nhìn thấy bóng dáng của hai đứa xuất hiện ở xa xa, có khi bị che khuất trong trong đám người của phiên chợ chiều sắp sửa tàn.

Thỉnh thoảng hai đứa không về thẳng nhà sau giờ tan học mà túm năm túm ba với đám bạn cùng trường, hay lúc có sẳn tiền trong túi ghé tạt bên lề đường ăn hàng rong thì khi về đến khu cư xá cũng đã quá sáu giờ chiều. Những lúc như vậy gương mặt bà Tư không nở nụ cười tươi mà có vẻ đăm chiêu với đôi lông mày nhíu lại, như thầm trách hai đứa sao về trễ mà không nói trước với bà. Kể từ khi ông Tư bị tai nạn lưu thông qua đời thì bà Tư luôn bị ám ảnh về cái chết bất đắc kỳ tử của chồng; nên mỗi khi thằng Thời hay con Thế đi đâu về trễ là bà Tư ruột gan nóng như lửa đốt, cứ đi ra đi vô mắt hướng về đầu ngõ trông chờ. Thằng Thời cũng hiểu được tâm trạng này của bà, nên thường đi học về nhà đúng giờ; nhưng tuổi trẻ ham chơi, thỉnh thoảng gặp bạn bè hẹn hò bất chợt thì lại tấp vào, nhưng hai đứa cũng biết bà Tư đang dõi mắt trông chờ nên cũng chỉ qua-loa với đám bạn trong chốc lát rồi vội vã đạp xe về ....

Lúc cao điểm của cuộc chiến Việt-Nam - khi xảy ra ‘mùa Hè Đỏ Lửa’ ở Cổ thành Quảng Trị năm 72 - thì hai đứa mới bắt đầu học lớp 11 ở Trung-Thu. Do nhu cầu tình hình khẩn trương của đất nước nên Bộ Giáo Dục & Thanh Niên thời đó đã đưa chương trình quân sự học đường vào các lớp đệ nhị cấp của các trường trung học trên toàn quốc. Có lần, đám học sinh Trung-Thu của Thời được đưa đi tập bắn ở xạ trường của Tổng Nha Cảnh Sát ngoài miệt Phú Lâm. Hai đứa đã bắt cặp xoay phiên với nhau, một đứa nằm bắn thì đứa kia ngồi kế bên làm trợ xạ. Tới phiên Danh bắn, nó nói với Thời:
- ‘Đến phiên tao bắn đây. Mày nhìn kỹ xem tao bắn có trúng vô hồng tâm không nghe Thời’. Thằng Thời gật gù trả lời:
- ‘Mày yên chí đi, tao sẽ nhìn rất kỹ!’
Sau khi bắn hết mười viên trong băng đạn carbine, thằng Danh hỏi:
- ‘Mày thấy vô được mấy viên hả Thời?’. Thằng Thời nhìn Danh, mắc cở đỏ mặt nhoẻn miệng cười, trả lời:
- ‘Tao có thấy viên nào đâu. Mỗi lần mày bóp cò, súng nổ lớn quá, tao giật mình chớp mắt nên có nhìn thấy gì đâu!’
          ... Cuối năm đó, tình hình đất nước càng lúc càng khẩn trương hơn, chiến sự bùng nổ ngày càng khốc liệt ở khắp nơi. Lệnh tổng động viên ‘đôn quân’ được ban hành, Thời và nhiều bạn bè khác đang học ở Trung-Thu, cũng đồng số phận như bao thanh niên khác - vì học trễ tuổi – nên phải lên đường nhập ngủ tòng quân. Lẽ ra Thời được miễn dịch vì lý do gia cảnh, nhưng nó đã không xin. Ngày nó xách gói quần áo ra đi, thằng Danh lòng buồn áo nảo. Hai đứa đã quấn quít cả một thời niên thiếu bên nhau. Thời đi rồi, từ nay thằng Danh sẽ thui thủi sớm tối một mình. Con đường từ cư xá Vĩnh Hội đến trường Trung- Thu, rồi trở về nhà bỗng nhiên - đối với Danh- thấy dài đăng đẳng, tưởng chừng như bất tận. Còn bà Tư thì khỏi nói, hôm thằng Thời ra đi, bà khóc sướt mướt như mưa bảo, nước mắt ràn rụa chảy dài. Bà đã buồn khóc đến sưng húp cả đôi mắt ...
          Hơn nửa năm sau, vô cùng ngạc nhiên và thích thú khi đang trong giờ ra chơi ở Trung-Thu, Danh mừng rỡ khi thấy Thời xuất hiện trong sân trường. Trông Thời thật oai phong lẫm liệt và đẹp trai trong bộ đồ bay một mảnh của binh chủng không quân với mái tóc húi cua thật ngắn. Chia tay chẳng bao lâu mà Danh thấy Thời bây giờ không còn nét thơ ngây của một thư sinh trói gà không chặt nữa. Nước da Thời sạm nắng phong sương và đã có nét rắn chắc phong trần. Cả lớp nhao nhao lên ngồi vây quanh nghe Thời kể chuyện ‘đời’ quân ngủ của nó.  Từ đó, trong lớp ai cũng biết Thời là xạ thủ đại liên trên máy bay trực thăng UH-1. Danh chọc Thời, nói:
‘Khi trước mày làm trợ xạ cho tao bắn súng carbine. Tao bóp cò, súng nổ mày nhắm mắt. Bây giờ mày làm xạ thủ đại liên, chắc mày vừa bóp cò vừa nhắm mắt ngủ luôn quá’.
Thời nhìn bạn cười xòa, nụ cười nó vẫn hiền hòa dễ thương không có gì khác trước. Buổi chiều đó, Thời đón Danh ngoài cổng trường lúc tan học, sau khi đã ‘cẩn thận’ thay bộ đồ bay bằng quần áo thư sinh của ngày nào. Chiếc áo sơ-mi trắng được cài thêm bảng tên bằng formica màu vàng óng ánh trên ngực và cái quần xanh đậm đã bạc màu. Danh hiểu rằng Thời muốn hai đứa sống lại những kỷ niệm mà cả hai đã từng có với nhau trong suốt tuổi học trò, nhưng – vì hoàn cảnh chiến tranh của đất nước - đã chợt mất đi trong hơn nửa năm qua. Hai đứa lại tung tăng lượn xe bên nhau trên tuyến đường cũ từ trường Trung-Thu hướng về chợ Bến Thành, nhưng lần này có thêm một số bạn bè cùng lớp tháp tùng kéo rốc theo, như bọn Trọng, Tấn, Sơn, Dũng, Nhơn, Hạp, Phong, Đăng .... Cả bọn đã hẹn nhau đi uống cà-phê nghe nhạc tại quán Chị Hằng trên đường Nguyễn Huệ. Chầu cà-phê đó do Thời khoảng đãi. Nó mới được lãnh lương ‘lính’ với hơn mười lăm ngàn đồng rủng rỉnh trong túi và hai tuần lễ nghỉ phép trước khi được đưa về đơn vị đầu tiên là Sư đoàn II Không quân, có căn cứ đóng ngoài Đà-Nẵng.
Hai tuần lễ trôi qua thật nhanh, Thời lại buồn bã xách ba-lô lên đường. Danh lại thắt ruột tím gan khi chia tay bạn. Thế lại rầu rầu nhưng lăng xăng lo cụ bị hành trang cho em; nhét thêm một hộp thịt chà-bông, một lon gui-gô mắm ruốc, vài phong kẹo mè xửng vào ba-lô Thời. Bà Tư lại nước mắt ràn rụa lưng tròng khóc tiễn biệt con. Ôi, hợp tan ly ngộ ... giây phút chia tay nào cũng bùi ngùi xúc động không cầm được nước mắt tuôn rơi.
Thời gian sau này Danh không còn đạp xe chiếc xe cọc cạch để đi học nữa mà được bà Năm - má nó - mua cho chiếc Velo Solex cũ của một người bà con bán lại. Nó vẫn ngày ngày đến trường tiếp tục việc bút nghiên. Đó là năm cuối của Danh ở Trung-Thu, chuẩn bị để thi tú tài II vào mùa Hè 74. Nó cố học ngày đêm vì sợ thi rớt sẽ bị bắt đi lính như Thời và những đứa bạn khác chung lớp như Hồ Xuân Thành, Nguyễn Văn Tấn, Nguyễn Phan Trọng, La Văn Tâm ... Khác với đám thằng Thành
Tấn, Tâm và Trọng đi lính bộ binh, phải băng rừng lội suối, ngủ rừng ngủ bụi, rắn rít thú dữ, gian khổ ghê lắm. Cũng không giống thằng Thời, đi lính ‘không quần’, thích mặc bộ đồ bay trông thật đẹp và kiêu hùng; nếu mang thêm khẩu súng lục bên hông thì lại càng oai phong lẫm liệt như cao-bồi Texas, có sức hấp dẫn mê hoặc nhiều em gái hậu phương. Thằng Danh, hồi còn nhỏ, cũng thường nghe bà Ngoại và Má nó nói, lính phi công là "ăn cơm dưới đất mà làm việc trên trời”. Lỡ máy bay bị hư đâm đầu xuống đất thì cầm bằng cái chết như chơi; nên Danh cũng đã chuẩn bị tư tưởng sẳn con đường binh nghiệp cho nó. Nếu chẳng may thi rớt tú tài, bị bắt lính thì nó sẽ gia nhập binh chủng ‘hai quần’. Danh mê tàu thuyền, biển cả và sông nước lắm. Thời gian học ở Trung-Thu, thỉnh thoảng nó thường ra bến tàu buổi tối để ngắm nhìn tàu thuyền qua lại trên sông Sài-Gòn. Có lúc nó bắt gặp và mê say nhìn những chiến hạm hải quân cặp bến hay rời bến từ Bộ Tư Lệnh Hải Quân, ngay bến Bạch Đằng. Đôi mắt nó chăm chăm dán vào những sĩ quan và thủy thủ trong bộ lễ phục màu trắng đang xếp hàng dài nghiêm trang, đứng chào tay trên boong tàu. Nó mê đôi giày trắng, bộ sắc phục tiểu lễ và đại lễ màu trắng tinh trông thật oai phong, trang nhã, sang trọng nhưng cũng bay bướm và lả lướt của những anh sĩ quan hải quân, nhất là khi có thêm một người đẹp trong chiếc áo dài thướt tha khèo tay đi bên cạnh, hay trong chiếc áo dạ hội dìu nhau cùng bước ra sàn nhảy ....  Nó ước mơ, nếu không làm một ông kỹ sư hóa học thì sẽ làm một sĩ quan thuyền trưởng hải quân. Nếu tàu thuyền có bị hư máy thì cũng chỉ bị trôi giạt giây lát mà thôi, cùng lắm là bị mắc cạn hay tắp vào bờ; chứ máy bay chết máy thì chỉ có đâm đầu xuống đất mà toi mạng ...
           Thời gian đó, chiến sự ở miền Nam càng ngày càng leo thang dữ dội ở khắp bốn vùng chiến thuật. Ngay tại thủ đô Sài-Gòn mà thỉnh thoảng - suốt đêm - nghe tiếng súng đại bác nổ đì đùng vang dội từ xa. Bà Tư lại càng lo sợ cho Thời. Bà mẹ Việt-Nam nào mà không âu sầu, ủ rũ, mất ăn mất ngủ, thức giấc nửa đêm khi nghe tiếng súng vang vọng về mà không lo lắng cho sự an nguy của đứa con trai, đã từng bao năm được mình ôm ấp trong vòng tay thương yêu trìu mến, đã từng chia sẻ với nhau biết bao kỷ niệm buồn vui trong gần nửa mảnh đời, trước khi – vì hoàn cảnh - đứa con vụt thoát ra khỏi đời mình. Cứ mỗi buổi chiều, dù biết rằng Thời đang lưu lạc nơi nào đó tận ngoài vùng II, nhưng như một thói quen trong bao năm qua, bà Tư vẫn bắt chiếc ghế đẩu ngồi tựa cửa, mắt nhìn mông lung ra chợ, hướng về phía đầu ngõ của hãng phân, nơi mà bóng dáng của thằng Thời và Danh vẫn thường xuất hiện vào khoảng 5.30 chiều, sau giờ tan học. Khi Thời rời gia đình để nhập ngủ, Danh cũng thường ghé qua nhà thăm viếng bà Tư. Sau giờ tan học về, nó vẫn thường đi theo đường cũ và vẫn thấy bà Tư ngồi trước cửa từ bao giờ. Danh luôn ngừng xe lại để chào ‘Má Tư’, nhưng mười lần như một, nói chuyện một hồi là thằng Danh lại thấy đôi mắt bà Tư đỏ hoe và thở dài vì nhung nhớ thằng Thời. Bà hết ngồi tựa cửa, rồi lui bước vô nhà, thắp một cây nhang cắm lên bàn thờ Phật, và đốt thêm một cây nhang nữa cắm trên bàn thờ ông Tư, miệng lâm râm khấn vái, rồi bước ra ngồi tựa cửa trước nhà. Sau này, lúc tan học về đến đầu chợ, Danh thường để ý lén nhìn trước từ xa, nếu không thấy bóng dáng bà Tư trước cửa, nó vội vàng tắt máy chiếc Velo Solex, và cong lưng đạp vội thật nhanh vút qua để về nhà. Còn như thấy bóng dáng của bà, nó rẽ qua con hẻm nhỏ bên phải đánh một vòng qua cuối chân cầu để bọc hậu vô nhà. Nó không muốn cứ mỗi lần bà Tư nhìn nó rồi lại nhớ tới Thời mà nước mắt lưng tròng ...
            Càng đến gần ngày thi thì chiến trường càng sôi động và lớp học thằng Danh cũng sôi động theo, nhưng không phải là cái ồn ào náo động của những lúc bạn bè đùa giỡn, chạy rượt bắt hay cãi vã chửi bới ỏm tỏi nhau như thường khi. Cũng không phải cái ồn ào, huyên náo nói cười hô hố của cả lớp chọc ghẹo khi có đám con gái đi ngang lớp, mà là cái sôi động trầm lặng lan nhanh như chùng xuống trong không khí nặng nề, ngột-ngạt và khó thở khi hay tin một thằng bạn vừa bỏ mạng trên chiến trường, mà nói bằng ngôn từ hoa mỹ là ‘hy sinh vì lý tưởng tự do’ hoặc là ‘vị quốc vong thân’. Không khí lớp học – tuy trong giờ trống – nhưng thật sôi động và cũng thật trầm lắng đến tĩnh mịch, chỉ nghe những tiếng nói thì thầm, nho nhỏ, rù rì và cả tiếng vo ve của những con ruồi đang bay mỗi khi cả lớp hay tin; nào là thằng Thành chết vì bị trúng mìn, rồi chẳng bao lâu sau thì thằng Tấn chết vì bị một viên đạn bắn sẻ trúng đầu khi đang ngồi gát trên cầu. Rồi ... như sét đánh bên tai thằng Danh, khi sau cùng tin thằng Thời tử trận vì một viên đạn quái ác từ dưới bắn lên máy bay trực thăng trúng ngay giữa ngực Thời.
Có ai ngờ, lần được về phép hai tuần - sau thời gian sáu tháng quân trường, trước khi cầm sự vụ lệnh ra trình diện đơn vị ngoài Đà Nẵng - Thời đã vào ngôi trường cũ Trung-Thu thăm viếng bạn bè và cùng nhau kéo đi uống cà-phê nghe nhạc ở quán Chị Hằng ngoài Nguyễn Huệ lại là lần gặp gỡ cuối cùng; và đối với riêng Danh, lần chia tay tiễn biệt sau đó với Thời lại là thiên thu vĩnh biệt ...
             Ngày thằng Danh theo bà Tư và Thế đi nhận xác Thời ở căn cứ không quân Tân Sơn Nhất thật là thê thảm. Bà Tư đã xỉu lên xỉu xuống đôi ba lần, ngã lăn xuống đường và khóc than gào thét thật bi ai thảm thiết khi viên trung sĩ nhất không quân mở chiếc hòm thiếc chứa đựng thi thể của Thời đang nằm trong đó.  Nó nằm ngay thẳng, vẫn trong chiếc áo bay một mảnh, hai tay được xếp lại để trên bụng. Giữa ngực, ngay chấn thủy có một lỗ đạn lớn sâu hoắch đen ngòm, bằng cỡ mặt chiếc đồng hồ đeo tay nhỏ trên tay Thế. Vết máu sẳm đỏ đã đổi sang màu đen bầm loang rộng ra hết cả vùng bụng trên chiếc áo bay màu xanh xám của Thời. Đầu nó hơi nghiên qua một bên và đôi mày hơi nhíu lại; có lẽ vì đau đớn bởi viên đạn quái ác ghim ngay giữa ngực, nhưng gương mặt của Thời trông vẫn vô tư, hồn nhiên và thanh thản như đang yên giấc ngủ trưa ... Danh ngồi bệt xuống đất như kiểu nước lụt, sát cạnh bên xác Thời và đưa tay vuốt nhẹ lên đôi mắt vẫn còn mở hi-hí của bạn. Nó lấy tay vuốt ve trên gương mặt đã lạnh tanh của Thời mà nước mắt lăn dài trên má. Đó là lần đầu tiên trong đời Danh đã khóc nức nở vì bạn...
          Từ ngày em chết, Thế buồn rầu trước những khổ đau vô thường của đời sống, và nhờ có căn tu nên Thế đã xin phép bà Tư xuất gia làm ni-cô ở ngôi chùa Kim-Liên gần đó, chỉ cách nhà có vài trăm thước. Hai mẹ con tuy xa mà gần, tuy gần mà xa vì cũng thường qua lại gặp nhau mà cũng như là không gặp. Thật chẳng khác ‘sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc’ ... Tối nào, bà Tư cũng đều qua chùa tụng kinh để cầu nguyện cho vong linh của ông Tư và Thời sớm được siêu thoát về thế giới cực lạc an lành, và cũng để tìm sự thanh thản cho tâm hồn qua tiếng kệ, lời kinh ...!

-ooOoo-



... Thời gian thoăn thoắt trôi nhanh, Danh bây giờ đã ngoài ngũ tuần, là giáo sư tại trường đại học Bách Khoa Sài-Gòn, có vợ ba con và sống trong một biệt thự ngoài Thủ-Đức. Mỗi tuần, Danh đều đến thăm bà Tư ít nhất một lần tại căn nhà cũ kĩ của khu cư xá Vĩnh Hội đã bị xuống cấp. Có lúc, sau giờ tan sở buổi chiều, Danh ghé đến một mình mang biếu bà Tư một ít thức ăn mà vợ Danh đã nấu sẵn từ tối hôm trước. Từ xa, nó đã thấy bóng dáng quen thuộc của bà Tư đang ngồi tựa cửa. Cũng vẫn tư thế đó, một chân co lên, một chân thòng xuống, và chiếc quạt phe phẩy trên tay. Bà Tư bây giờ đã già và ốm đi nhiều lắm với mái tóc bạc phơ và cái lưng còng xuống. Miệng nhòm nhoàm nhai trầu, bà cũng nở nụ cười thật tươi khi nhìn thấy Danh, nhưng đôi mắt vì đã lòa nên bà chỉ thấy khi Danh đã đến gần trước mặt. Có lúc, vào ngày cuối tuần, Danh đưa cả vợ con đến thăm và ở chơi với bà Tư suốt cả ngày. Có lúc Danh rước bà Tư ra Thủ Đức ở chơi với gia đình Danh suốt cả tuần lễ. Ba má Danh cũng đã lần lượt qua đời. Mấy đứa con của Danh đều rất thương bà Tư, và gọi bà là ‘bà Nội Tư’.  Đã nhiều lần, vợ chồng Danh đề nghị đưa bà Nội Tư về ở luôn ngoài Thủ Đức để sớm hôm chăm sóc cho bà, nhưng lần nào bà cũng đều nhất quyết chối từ. Có lần bà Tư đã nói:

-    ‘Má đã một lần chạy trốn kỷ niệm nên mới dọn về căn nhà này, nhưng Má đã nghiệm ra rằng, người ta có thể chạy trốn không gian nhưng không thể trốn được thời gian; có thể trốn được kỷ niệm nhưng không thể trốn được ký ức; có thể tìm cách để quên đi quá khứ nhưng không thể tránh được tương lai đang trôi về hiện tại; có thể dễ dàng quên đi hình bóng một người theo những biến đổi của dòng đời trôi chảy nhưng không thể quên được phẩm chất và nhân cách của một con người; có thể quên đi dĩ vãng nhưng không thể tránh được hiện tại, vì hiện tại là cái quả của cái nhân dĩ vãng kia, cũng như là - cái nhân của cái quả tương lai ... Chi bằng Má cứ chấp nhận an trú trong cái thực tại của cuộc sống, mặc dù không được toàn mỹ, không được viên dung như ý, nhưng Má vẫn cảm thấy hài lòng và an vui với những kỷ niệm không thể thay thế được của quá khứ cũng như của ký ức được an trú trong hiện tại. Đó là nguồn tư lương để Má luôn có đủ sức mạnh, can đảm và nghị lực mà đứng vững trong cuộc sống hơn bốn chục năm qua, kể từ khi Ba Tư con qua đời và sau đó là sự ra đi của thằng Thời ...!’
Từ những ngày còn tung tăng với Thời hồi bậc trung học ở Trung-Thu, Danh đã biết bà Tư là người sống nhiều về nội tâm. Bà ít nói, nhưng mỗi khi nói ra điều gì đều là chân lý ít ai có thể phủ nhận những giá trị trong lời nói của bà. Nếu không có được cái tâm từ bi, bác ái nhưng kiên cường, sự chánh tư duy của cái trí rộng mở, không hẹp hòi câu chấp thì người ta không thể vươn lên thoát khỏi những đau khổ thường tình của thế gian, và không sống được một đời sống bình tâm tự tại như bà, mặc dù vẫn can đảm đối đầu với thực tại khổ đau của những kỷ niệm và ký ức vây quanh ... Mỗi lần về thăm bà Tư, Danh đều đến trước cái bàn thờ cũ kĩ ở giữa nhà để thắp hương cho ông Tư và Thời. Có lần Danh đã đề nghị bà Tư cho Danh thay cái bàn thờ đã cũ bằng cái tủ thờ mới, nhưng bà Tư không chịu vì đó là cái bàn thờ mà Thời đã dẫn bà đi mua tận bên chợ Ông Tạ. Bà muốn ôm ấp tất cả những kỷ niệm của Thời mà bà còn giữ được trong căn nhà này. Bà không còn sợ hãi khi phải đối đầu với kỷ niệm - như những kỷ niệm đã từng có với ông Tư trong căn nhà trước nữa ...!
                                                        oo0oo
Nếu một người lạ bước vào nhà bà Tư sẽ dễ dàng ngạc nhiên khi thấy hai tấm hình để trên bàn thờ giống hệt nhau, một trẻ một già và người ta sẽ nghĩ rằng tấm hình người trẻ là của người già lúc còn trẻ; hay ngược lại, tấm hình người già là của người trẻ lúc về già. Mà thật ra, đó là của hai người thân yêu nhất đời bà, ông Tư, người chồng duy nhất trong mối tình đầu đời của bà, đã ‘tử nạn vì công vụ’; và Thời, đứa con trai duy nhất mà ông Tư đã để lại cho cuộc đời bà, đã ‘tử trận nơi chiến trường’.

... Danh thắp một cây nhang cắm lên bàn thờ ông Tư và Thời. Nó xoay lưng nhìn mông lung ra khu chợ trước nhà. Trời đã nhá nhem tối. Đèn đường đã cháy sáng nhấp nhô hiu hắt bên ngoài. Đàn thiêu thân bay loạn xạ vây quanh ánh sáng của những cây cột đèn ... Bất giác Danh thở dài khi nhớ đến Tấn và Thành, rồi nghĩ đến hai bà mẹ của hai người bạn Trung- Thu, và biết bao bà mẹ Việt-Nam đau khổ khác nữa của nhiều thế hệ thanh niên, còn rất ngây thơ khờ dại ở cái lứa tuổi ‘ăn chưa no lo chưa tới’ mà đã bị lùa vào một trận chiến nồi da xáo thịt, cốt nhục tương tàn và phải gục ngã hy sinh khi tuổi đời còn quá non trẻ.

Những từ ngữ hoa mỹ như ‘nghĩa vụ quốc tế’ hay ‘anh hùng liệt sĩ’, ‘vị quốc vong thân’, hoặc ‘sinh Bắc tử Nam’ v.v... có đủ để che đậy được cái yếu hèn, ngu ngốc và bị động - chỉ như những con ‘chốt thí’ trên bàn cờ quốc tế - trong thân phận của một quốc gia lạc hậu và nhược tiểu như Việt-Nam?

 
(Viết để Tưởng Niệm 31 năm ngày ‘trường mất nhà tan’ 30/4/1975, cũng như để Tưởng Niệm và Vinh Danh những người bạn Trung-Thu của tôi):

•    Hồ Xuân Thành (*)         (1954 - 1973)
•    Nguyễn Văn Tấn        (1955 - 1973)
•    Nguyễn Tấn Thời       (1954 - 1973)
•    Nguyễn Văn Phương  (1955 - 1978?)
•    .............................
•    .............................
đã ...
‘VỊ QUỐC VONG THÂN’
Melbourne, 30/4/2006.
Trung Thu.

Ghi chú của tác giả:
(*)   Thành bị trúng mìn
Tấn bị bắn sẻ
Thời trúng đạn từ dưới bắn lên trực thăng
Phương bị xử tử sau năm 75.
(**)  Thành, Tấn, Tâm, Phương (lớp Pháp văn) đều sinh hoạt trong Hội Hướng đạo Cảnh Sát của Trung-Thu. Ngoài Thời sinh hoạt bên Hướng đạo Việt-Nam ra, tất cả những bạn kia đều là đoàn sinh trong thiếu đoàn do tôi chỉ huy.


                  











                                                                    Di ảnh Cha của tác giả (LVĐ).

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn