QUỐC DÂN HỘI NGHỊ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM

27/02/201910:36 CH(Xem: 1367)
QUỐC DÂN HỘI NGHỊ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM
Quốc Dân Hội Nghị Đầu Tiên Của Việt Tộc

Tống Phước Hiến

      Kể từ khi đảng cộng sản Việt Nam thống trị, đã đưa quê hương ngày gần kề hố diệt vong. Quê hương càng tan tác đọa đày thì lòng căm phẫn và ý chí quật cường và đoàn kết dân tộc mỗi ngày một hun đúc, phát triển và quyết liệt.
      Suốt gần năm ngàn năm, từ khi Quốc Tổ mang gươm đi mở nước, đất nước qua bao can qua loạn lạc. Giặc phương Bắc, nhiều lần thôn tính nước ta. Một ngàn năm lệ thuộc là một ngàn năm chiến trận giành lại non sông. không cúi đầu trước ngoại xâm.
     Hôm nay, lịch sử lại hớn căm. Trung cộng nối tiếp mộng tham ác tổ tiên của chúng, không ngơi nghĩ giấc mộng giày xéo chiếm đoạt dư đồ nước Việt. Lòng dân Việt lại cũng tiếp chí tiền nhân, hào hùng dũng lược. Nhưng oan nghiệt thay, đảng CSVN, thay quân thù triệt tiêu ý chí truyền thống bảo vệ tổ quốc giống nòi Việt Nam.
     Trận chiến hôm nay, là trận chiến giữa toàn dân Việt Nam với đảng quyền cộng sản Việt Nam, kẻ đã thay quân thù trở giáo chém quê hương. Những cuộc biểu tình phát xuất từ lòng ái quốc ngút ngàn thăm thẳm. Mặc cho lang sói cộng sản Việt Nam hung hăng làm chó săn cho giặc Tàu xâm lăng, đoàn người vẫn bước tới, trận địa càng loan máu lệ thì uất hận càng dậy sóng. Những đợt sóng phủ đầu, biểu trưng cho ý chí quyết liệt của hầu hết thành phần xã hội. Bên cạnh bậc giai lão lả những thanh thiếu niên hồn nhiên trẻ trung. Bên cạnh những anh chị nông dân, thợ thuyền là những nhà trí thức khoa bảng, Bên cạnh những nhà tu hành truyền giáo giữ gìn và phát triển đạo đức hướng thượng, là những sinh viên học sinh sức sống tương lai của dân tộc.
      Biểu tình là sự tập họp của quần chúng khi họ có chung một ý chí quyết liệt, là chấp nhận muôn vàn nguy hiểm và quyết dấn thân cho Tổ quốc trường tồn..
     Cuộc biểu tình của người Việt khắp nơi trên thế giới, có thể nói nơi nào có người Việt Nam là nơi đó có biểu tình, nếu không thì họ cũng đồng cảm. Nhưng hình ảnh những cuộc biều tình vào ngày 10 tháng Sáu 2018 làm người Việt Nam liên tưởng đến Hội Nghị Diên Hồng diễn ra vào cuối năm 1284.
     Phải chăng lịch sử tái diễn báo hiệu những trận sóng thần vúi chôn cộng sản Việt Nam dã tâm bán nước cho Tàu cộng, vùi chôn mộng xâm lăng của giặc Hán, như ngảy xưa giặc Nguyên Mông phơi xác trên non sông Đại Việt, máu xâm lăng của chúng nhuộm đỏ sông Bạch Đằng. nhuộm đỏ cửa biển Vân Đồn.
      Giờ đây, chúng ta hãy lủi lại 734 năm trước, tìm lại hào khí Diên Hồng làm hành trang cho cuộc dấn thân vì nền tự chủ của Tố Quốc, vì tương lai của giống nòi Đại Việt.
A-    Bối cảnh về Hội Nghị Diên Hồng:
 
I/Nguyên nhân:

1-Tham vọng chiếm hữu đất đai và bắt kẻ thất trận làm nô lê.
2- Tự ái cao ngạo. Lúc bấy giờ, Mông cổ là đạo kỵ binh bách chiến bách thắng, sau khi đánh chiếm trọn vẹn Trung nguyên, và những thuộc địa của Hán tộc. Với sức mạnh vô địch, Mông cổ chinh phục vùng đất rộng lớn lan đến châu Âu, Trung Đông, lập nên đế quốc Nguyên Mông bao la. Vì vậy, đội quân nầy không cam chịu bại trận lần đầu tiên năm 1258 trước nước Đại Việt nhỏ bé.
3 -Chiếm được Đại Việt, vó câu kỵ binh của họ sẽ thẳng tiến, chinh phục vùng đất rộng mệnh mông phía Nam như Ai Lao, Champa, Chân Lập, Thái Lan và tràn sang phìa Tây với các nước như Miến Điện, Ấn Độ….

II/Hội nghị Bình Than: Đoán trước giặc không từ bỏ dã tâm xâm lăng nước ta. Năm 1282 Vua Trần Nhân Tông cho triệu tập giới quý tộc và các tướng lãnh cao cấp về Bình Than tham dự Hội nghị, bàn luận phương cách chống trả khi kẻ thù gây chiến.


III/Hội nghị Diên Hồng: Trước quyết tâm xâm lăng, và sức mạnh vô địch của đế quốc Nguyên Mông. Để có quyết định chính xác, Thái thượng Hoàng Trần Thánh Tôn cho mời các vị Bô Lão trên toàn quốc về kinh đô lấy quyết định nên HÒA hay nên CHIẾN. Hội nghị nầy được diễn ra trước điện Diên Hồng. Sau khi nhà vua phân tích sức mạnh của quân địch, thảm cảnh nô lệ khi bị mất nước và sự hy sinh to lớn tất yếu phải có nếu chấp nhận cuộc chiến tranh vệ quốc. Tất cả Bô Lão đồng thanh dõng dạc hô: QUYẾT CHIẾN và chấp nhận HY SINH. (bao gồm cả sinh mang lẫn tài sản).

B-Nhận định về Hội Nghị Diên Hồng:
1/ Khác với hội nghị Bình Than, Hội Nghị Diên Hồng không bàn đến quân sự mà chỉ hỏi ý dân là nên CHIẾN hay HÒA.
2/Lầu tiên trong lịch sử Việt Nam, hình thức Quốc Dân Hội Nghị để Trưng Cầu Dân Ý do triều Trần tố chức
C-Tác dụng của Hội nghị Diên Hồng:
1/Thăm dò, và đo lường mức độ căm phẫn của người dân đối với kẻ thù xâm lăng, mức độ ủng hộ triều đình, ý thức quyền tự chủ Dân tộc. Đánh giá dân trí, dân khí. Biết chắc sức mạnh dân tôc trước khi quyết định kế hoạch chiến lược cuộc chiến.
2/Khi về địa phương, các bô lão truyền đạt và giải thích chủ trương của triều đình với sự đồng ý và quyết tâm của mình. Chính quý bậc trưởng thượng ấy đốc thúc con cháu lên đường chinh chiến, triệt để thi hành các quốc sách mà triều đình ban hành như kế hoạch Thanh Dã
3/Hội Nghị Diên Hồng trở thành biều tượng cho truyền thống tôn trọng “Lão Quyền” của dân tộc. Hội nghị Diên Hồng là sự nối tiếp truyền thống đoàn kết, lòng ái quốc, ý chí quyết liệt chống ngoai xâm, ý chí tự tồn từ khi tổ tiên Người Việt quyết định hình thành quốc gia tự chủ. Hội Nghị Diên Hồng là điều kiện tất yếu để có cuộc chiến thắng oanh liệt.
4/ Nhờ sự đoàn kết dân tộc, vua tôi một lòng, quân ta đã đánh tan đạo quân lừng danh, bách chiến bách thắng Nguyên Mông
5/ Ngay sau Hội nghị Diên Hồng, tháng 1.1285, quân giặc tràn vào biên cương phía Bắc xâm lăng nước ta lần thứ hai.
D/Sơ Lược Ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược
Trong thế kỷ XIII, vào các năm 1258 - 1285 -1288 dân tộc Việt Nam đã ba lần chiến thắng giặc Nguyên Mông xâm lược.
     Lần thứ I:
1/Tháng Giêng nǎm 1258., tướng Uryangquadai (Ngột Lương Hợp Thai) thống lĩnh 4 vạn binh mã, tràn qua biên giới hung hãn xâm lăng Đại Việt. Vua Trần Thái Tông đem quân chặn giặc ở Bình Lệ Nguyên, bên sông Cà Lồ. Nhưng vì thế giặc quá mạnh, vua ra lệnh bò ngỏ Thăng Long, để bảo toàn lực lượng.
2/Trước sức giặc quá mạnh, Thái Sư Trần Thủ Độ khẳng khái tâu:''Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo". Kế hoạch THANH DÃ (vườn không nhà trống) được ban hành với sự đồng tình của toàn dân. Do vậy, khi giặc vào Thăng Long, không cướp đuợc lương thực của dân để nuôi binh. Lại thêm khí hậu không thich hợp khiến quân địch rối loạn.
3/Ngày 29.l.1258, vua Trần Thái Tông đem binh thuyền ngược sông Hồng tiến về Thǎng Long. Quân thù bị đánh bật ra khỏi Kinh thành. Trên đường chạy về Tàu theo hướng Vân Nam, quân dân các động dân tộc thiểu số ở miền núi tập kích, đánh cho tan tác.
4/Sau lần thất bại đó, nước Tàu lại có cuộc chiến giữa các nhóm Mông cổ với nhau từ 1259 dến 1264. Tiếp đến là cuộc chiến giữa triều đình nha Nam Tống và quân Mông Cổ từ 1265 đến 1279, nên chưa thể tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt.
     Lần thứ II:
I/ Bối cảnh lịch sử:
1/Nǎm 1279, nhà Nam Tống bị thất trận, Mông Cổ chiếm trọn nước Tàu, lập nên triều đại Nguyên Mông. Đạt được ngôi đại đế, Quibilai (Hốt Tất Liệt - 1260-1295) tính đến chuyện xâm lăng Đại Việt.
2/Cuối nǎm 1284, Hốt Tất Liệt phong cho con trai là hoàng tử Thoát Hoan làm Trấn Nam Đại Nguyên Soái xua 60 vạn tên chia làm 3 cánh thực hiện giấc mộng xâm lăng nước ta.
      a/Cánh thứ 1 do Thoát Hoan trực tiếp thống lĩnh trực chỉ theo hướng Lạng Sơn.
     b/Cánh thứ 2: do Nasirud Din (Nạp Tốc Lạt Đinh) chỉ huy từ Vân Nam đánh thốc vào Tuyên Quang.
     c/Cánh thứ 3: dưới quyền của Sogatu (Toa Đô) từ hướng Champa phía Nam của Đại Việt, tạo thế xiết gọng kềm
3/Tháng 12 Giáp Thân (1284), thấy thế giặc quá mạnh, vua Trần Nhân Tông hỏi Tiết Chế Trần Quốc Tuấn: ”thế giặc to như vậy mà chống với chúng thì dân chúng bị tàn sát, nhà cửa bị phá hại, hay là trẫm chịu hàng để cứu muôn dân?”. Hưng Đạo Vương đáp: “Nếu bệ hạ muốn hàng, xin chém đầu thần trước đã!”. Từ giai cấp vương quyền, đến dân thứ, trai tráng Đại Việt xăm hai chữ “sát thát” vào cánh tay rồi đầu quân ra trận.
II/Diễn tiến chiến sự:
      1/Tháng 2.1285 sau những lần kịch chiến ở Lạng Sơn và Tuyên Quang, quân ta bỏ Thǎng Long rút về Thiên Trường và Trường Yên (Ninh Bình). Nhưng dân quân các địa phương vẫn tiếp tục mai phục tập kích gây khó khăn cho quân địch khi di chuyển. 
      2/Tháng 5/1285, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn dẫn đại quân tiến ra Bắc theo kế hoạch diệt địch như sau:
         a/Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải và một số tướng lĩnh diệt địch trên phòng tuyến sông Hồng,
         b/Hưng Đạo Vương, đem quân vòng qua vùng Hải Đông, tiến lên Vạn Kiếp, chặn đường tháo chạy của địch.
     3/Cuối tháng 5-1285, trận chiến diễn ra đúng theo ước tính của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn:
          a/ Trần Quang Khải cùng với Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản đã đánh tan giặc ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, rồi tiến chiếm lại Thǎng Long.
          b/ Thoát Hoan hoảng hốt, rút khỏi Thǎng Long. Trên đường tháo chạy về phía Vạn Kiếp, Thoát Hoan bị lọt vào trận địa mai phục của Trần Hưng Đạo, chúng bị thương vong rất nhiều. Đám tàn quân cố mở đường máu chạy tán loạn. Khi đến Lạng Sơn, lại bị quân ta chặn đánh. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng rồi bắt quân lính khiêng chạy về nước. Viên đại tướng Lý Hằng đi đoạn hậu, bị trúng tên chết.
       c/ Hay tin thất trận, Tướng Mông cồ Nasirud Din (Nạp Tốc Lạt Đinh) vội vàng tẩu thoát về Vân Nam, nhưng cũng bị quân Đại Việt tập kích, đánh cho tơi tả.
       d/ Vì không biết Thoát Hoan thua trận đã bỏ chạy, Toa Đô hùng hỗ, theo sông Hồng về Thǎng Long. Nhưng khi đến Tây Kết thì bị quân ta chặn đánh. Toa Đô bị chém chết. Thế là cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ II của Nguyên Mông bị thất bại.
Lần thứ III:
I/ Bối cảnh trận chiến: Sau 2 lần thất bại, vua Nguyên càng thêm căm hận và quyết đánh thắng Đại Việt bằng mọi giá. Cuối nǎm 1287, Hốt Tất Liệt lại sai Thoát Hoan tiếp tục cuộc chinh phạt Đại Việt cũng với chiến lược xiết gọng kềm bởi 3 đạo hùng binh:
   1/Đạo thứ nhất: Do Thoát Hoan và Agurucxi (Áo Lỗ Xích) chỉ huy tiến vào Lạng Sơn.
   2/ Đạo thứ hai: Do Airuq (Ái Lỗ) cầm đầu, từ Vân Nam đánh vào Tuyên Quang.
   3/Đạo thứ 3: Là Đạo Thủy quân do Omar (ô Mã Nhi) chỉ huy, hộ tống đoàn thuyền tải lương của Trương Vǎn Hổ vào Đại Việt theo đường biển.
II/Diễn Tiến Trận Chiến:
   1/Diệt quân lương địch: Tháng 12.1287, khi đoàn thuyền chiến ô Mã Nhi tiến vào vùng biển An Bang (Quảng Ninh), Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư đem thuỷ quân chặn đánh, nhưng không cản được giặc. ô Mã Nhi cho binh thuyền tiến vào sông Bạch Đằng, Vì khinh địch, Ô Mã Nhi không chú ý đến đoàn thuyền lương di chuyển nặng nề chậm chạp ở sau. Tháng 1.1288, đoàn thuyền lương của giặc mới đến Vân Đồn.bị Trần Khánh Dư đánh tập kích. Trương Vǎn Hổ thua, đổ lương thực xuống biển, trèo lên một chiếc thuyền nhỏ, trốn về Quỳnh Châu (Hải Nam).
  2/Thăng Long lại phải bỏ ngỏ: Chiến thắng tại Vân Đồn khiến Trương văn Hổ thua chạy, nhưng lúc bấy giờ, quân Thoát Hoan quá mạnh, chúng tiến vào được Lạng Sơn, hội quân với cánh quân thủy của ô Mã Nhi ở Vạn Kiếp. Ngày 2.2.1288, chúng chia nhau chiếm Thǎng Long .
  3/Quân giặc nếm mùi thất bại:
      a/Thất bại vì không có lương thực và bị đánh liên miên: Chiếm được Thăng Long, Thoát Hoan không biết thuyền lương của Trương văn Hổ đã bị quân ta tiêu hủy, vả đã trốn chạy. Khi Ô mã Nhi đem chiến thuyền ra biển đón thuyền lương của Trương Vǎn Hổ, thì mới biết là không còn thuyển lương, Đạo quân xâm lăng lâm vào tình thế khốn quẫn. Thoát Hoan phải ra lệnh rút về Vạn Kiếp, trên đường đi, giặc bị quân ta chặn đánh ở cửa Ba Sông, vùng Phả Lại.Giặc bị quân ta tập kích đánh liên miên bất kể ngày đêm. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, Thoát Hoan quyết định rút quân về nước theo hai đường. Nhưng kế hoạch rút lui của giặc trùng khớp với dự liệu của Hưng Đạo Đại Vương:
  - Cánh quân bộ rút qua vùng Lạng Sơn,
  - Cánh quân thuỷ rút ra biển theo sông Bạch Đằng.
      b/Trận Bạch Đằng Giang: Từ tháng 3 những cọc gổ lim đã được đẽo nhọn, đóng xuống lòng sông, tạo thành những bãi cọc lớn. Thuỷ quân và bộ binh ta phục sẵn theo sông Bạch Đằng chờ ngày diệt địch.
Sáng ngày 9.4.1288, chờ cho đoàn thuyền chiến của ô Mã Nhi tiến vào sông Bạch Đằng và lọt vào trận địa mai phục, thì từ các nhánh sông, các thuyền độc mộc của ta lao ra đánh, dồn chúng vào các bãi cọc. Giặc định áp thuyền sát bờ, đổ quân chiếm lấy núi cao để yểm hộ cho đoàn thuyền rút, nhưng bị bộ binh ta đánh nên chúng thuyền chúng không thể cặp vào bờ. Khi nước triều xuống gấp, thuyền giặc to nặng, lao nhanh theo dòng nước, vướng cọc, tan vỡ rất nhiều. Đến chập tối quân ta tiêu diệt được toàn bộ đạo quân thuỷ của giặc, tướng giặc ô Mã Nhi bị bắt sống.
     c/Thoát Hoan lại nhục nhã tháo chạy: Trong khi đó, đạo quân của Thoát Hoan cũng khốn đốn chạy ra biên giới. Vì bị phục kích ở cửa ải Nội Bàng, chúng bỏ con đường ra ải Khâu Cấp, vòng theo đường Đan Ba (Đình Lập), chạy ra biên giới. Nhưng lại bị quân ta chặn đánh, tướng giặc là A Bát Xích (Abaci) bị trúng tên. Mãi đến ngày 19.4.1288, đám tàn quân của Thoát Hoan mới về đến Tàu.
Chiến thắng Bạch Đằng chôn vùi vĩnh viễn mộng xâm lược của Hốt Tất Liệt. Riêng về trận Bạch Đằng quân ta đã tiêu diệt được 8 vạn thuỷ quân và 400 thuyền chiến.
Trong vòng 30 nǎm, đế quốc Nguyên Mông mạnh nhất và hung hãn nhất của thời đó, ba lần xăm lăng nước ta lả ba lần bị ta đánh tan tác, thảm bại nhục nhã.
Đây là chiến thắng lần thứ ba trên sông Bạch Đằng của quân ta, bằng chiến thuật cọc gổ. Ba chiến thắng trên sông Bạch Đằng như sau:
Trong lịch sử, năm 938, Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán tại Bạch Đằng. thời Lý Thương Kiệt chống quân Tống, (1075-1077), thời Trần Hưng Đạo chống quân Nguyên Mông (1287-1288).
  -Lần thứ nhất: Năm Mậu Tuất - 938, dưới tài chỉ huy của Ngô Quyền để giành độc lập sau 1050 năm Bắc thuộc.
  -Lần thứ hai: Năm 981 Lê Đại Hành chiến thắng quân Tống.
  -Lần thứ ba: Năm 1288 chiến công lịch sử của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn.

G. Vài Sự Kiện Quan Trọng
I/ An Tư Công Chúa - Vị Công Chúa Bị Lịch Sử Bỏ Quên
Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của sử gia Ngô Sĩ Liên chỉ nhắc đến Công Chúa An Tư, con gái út của vua Trần Thái Tông bị triều đình đem cống nạp cho tướng giặc Nguyên Thoát Hoan để "làm thư giãn nạn nước”.      
Sau khi tiêu diệt Nam Tống 1279, thống trị được Hán tộc, Nguyên Thế Tổ Quibilai (Hốt Tất Liệt - 1260-1295) liền tiến hành quyết tâm thôn tính nước ta lần thứ II.
Năm 1282 Hốt Tất Liệt sai Toa Đô mang 50 vạn quân theo đường biển đánh chiếm Chiêm Thành, tổ chức cai trị và binh bị, đợi Thoát Hoan mang 50 vạn quân từ phía Bắc tràn xuống, sẽ từ phía Nam đánh ra tạo thành hai gọng kìm xiết chết Đại Việt.
Cuối năm 1284, đại quân của Thoát Hoan tràn vào nước ta như bão lốc. Quân ta thua liên  miên ở Chi Lăng, Vạn Kiếp, Đông Bộ Đầu,..Vua Nhân Tông và Thượng hoàng Thái Tông bỏ Thăng Long chạy về Thiên Trường. Thế quân giặc quá mạnh, chiếm đóng khắp nơi. Bọn hoàng tộc Trần Ích Tắc, Trần Kiện, Trần Lộng, Trần Tú Viên,...cùng thuộc hạ đầu hàng giặc. Trong tình cảnh muôn ngàn nguy khốn đó, muốn chận đứng vó ngựa Mông Cổ để có thời gian chuẩn bị quân mã, phối trí trận địa, vận dụng nguồn lương và những kế sách quốc phòng khác. muốn "làm thư giãn nạn nước”, Công chúa An Tư đành gạt lệ lên đường cống nạp cho Thoát Hoan, nhờ vậy màTriều đình có khoảng thời gian hưu chiến cần thiết cho Thượng Hoàng Thánh Tông, vua Nhân Tôn cùng với Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn tổ chức lại lực lượng, vận động dân chí, tinh thần quyết chí cùa binh tướng. Nhờ vậy, 5 tháng sau 20 vạn quân xâm lược Nguyên Mông bị thảm bại, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng chạy trối chết về Tàu, Toa Đô bị chém đầu, Ô Mã Nhi bỏ xác trên sông nước Đại Việt. Chấm dứt can qua, đất nước sạch bóng quân thù, Nhưng đau đớn thay, lịch sử bỏ quên Công Chúa An Tư, chẳng biết cuộc đời Công Chúa An Tư về sau ra sao!
Sau nầy, hai ông Quỳnh Cư và Đỗ Quốc Hùng dựa theo sách "An Nam chí lược" của Lê Tắc, viết trong quyển "Các triều đại Việt Nam" rằng: ”Công Chúa An Tư đã theo Thoát Hoan chạy về Tàu và sinh cho tướng giặc nầy hai người con.”. Để đánh già tin nầy, cũng nên biết đôi nét vê Lê Tắc:
Lê Tắc là thuộc hạ của Chương Hiến Thượng Hầu Trần Kiện, cùng chủ đầu hàng Toa Đô và gheo giặc chạy về Tàu, nhưng khi đến biên giới thì Trần Kiện bị giết, Lê Tắc thoát chết sống lưu vong bên Tàu, sau viết ra cuốn sách nói trên.
Theo sách nầy, ở mục "Các Vương hầu Nội Phụ" (tức những hoàng tộc nhà Trần đầu hàng giặc và sống bên Tàu), trang 249, về người đàn bà Đại Việt làm thứ phi và sinh cho Thoát Hoan hai người con, Lê Tắc viết: “Mùa Đông năm Giáp Thân niên hiệu Chí Nguyên (1284) đại binh đến An Nam. Mùa Xuân năm sau, Tú Viên (con Trần Di Ái, xem phần: “Điểm Mặt Bốn Tên Đại Quý Tộc Nhà Trần Phản Quốc”) xin cha mẹ quy thuận. Tháng 4 vào bệ kiến. Lúc bỏ nước ra đi, dọc đường gia quyến bị tử vong hết 8 người. Tháng 9 đến Kinh sư, Hoàng thượng (Hốt Tất Liệt). Năm Ất Hợi (1285) các người đều được cho cung tên, tiền bạc, yên ngựa để theo quân qua đánh An Nam. Năm sau trở về Hán Dương, Trấn Nam Vương (Thoát Hoan) cưới em gái làm thứ phi sinh được hai con..". Như vậy, người sinh 2 con với Thoát Hoan là con gái Trần Di Ái, em hay chị của Trần Tú Viên chứ không phải công chúa An Tư, con Thượng hoàng Trần Thái Tông. Phải chăng Lịch sử bất công khi không ghi rõ ràng chi tiết về Công Chúa An Tư?.
Hiện nay, tại thôn Viên, xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm Hà Nội, dân chúng có lập đền thờ gọi là Đền Bà Chúa. Vì sợ kẻ thù phá hoại đền thờ khi chúng quay sang lần nữa, nên ghi là tên
là công chúa Trần Khắc Hãn. Trong gia phả Trần triều không có công chúa nào tên là Trần khắc Hãn, Như vậy, có thể đó là ngụ ý rằng nhà Trần đã nhờ vị Công Chúa nầy mà kiềm chế được sự hung hãn của kẻ thù.

II/-Bốn Tên Đại Quý Tộc Nhà Trần Phản Quốc
Trong cuộc chiến chống Nguyên Mông, giới quý tộc nhà Trần có bốn tên hèn nhát, phản bội mà tiếng ô nhục còn lưu đến ngày nay, đó là:
1/Trần Di Ái: Khi vua Nhân Tông lên ngôi, vua Nguyên là Hốt Tất Liệt sai sứ đưa thư trách, đòi phải sang chầu. Vua Trần Nhân Tôn không chấp nhận. Năm 1282, vua Nguyên lại sai sứ sang yêu sách: “Nếu vua nước Nam không sang chầu được thì phải đưa vàng ngọc sang thay và phải nộp hiền sĩ, thầy âm dương bói toán, thợ khéo mỗi hạng hai người”. Vua Trần Nhân Tông lại không đồng ý và sai người chú là Trần Di Ái (em Thượng Hoàng Trần Thái Tông) sang thay cho mình. Hốt Tất Liệt không bằng lòng, lập Trần Di Ái làm An Nam Quốc Vương và sai 1.000 quân hộ tống về nước, với ý định áp đạt quyền cai trị lên Đại Việt. Nhưng khi đến biên ải thì quân hộ tống Trần Di Ái bị quân nhà Trần đánh tan tành. Trần Di Ái bị bắt, vua Trần tha tội chết, cho đi làm lính hầu ở phủ Thiên Trường.
2/ Trần Ích Tắc: con thứ của Thượng hoàng Trần Thái Tông, học vấn uyên thâm, thông hiểu lịch sử, nghệ thuật và văn chương. Năm 15 tuổi, Trần Ích Tắc lén nhờ khách buôn ở Vân Đồn gửi thư xin quân Nguyên đánh Đại Việt và xin lập mình làm vua. Năm 1285 quân Nguyên sang xâm lược Đại Việt, Trần Ích Tắc làm Đại tướng, chỉ huy chống giặc miền Đà Giang. Nhân cơ hội nầy, Trần Ích Tắc đầu hàng giặc và được đưa về phương Bắc. Hốt Tất Liệt phong Tắc làm An Nam Quốc vương chờ ngày đưa trở về nước. Nhưng vì quân Nguyên thất bại nên Trần Ích Tắc ở lại Ngạc Châu (tỉnh Hồ Bắc bên Tàu).
3/Trần Kiện: con của Tĩnh Quốc Vương Trần Quốc Khang, được phong làm Chương Hiến Hầu, thay cha lĩnh chức Tịnh Hải quân Tiết Độ Sứ, kết hôn với con gái của Thái Sư Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải. Năm 1284, do hiềm khích trong triều đình, Trần Kiện về làng Nhân Mục ẩn cư. Cùng năm, Thoát Hoan dẫn quân xâm lược Đại Việt và đánh bại quân nhà Trần, trong lúc Toa Đô dẫn binh từ Chiêm Thành đánh tập hậu. Triều đình cử Trần Kiện về cầm quân chống Toa Đô. Nhưng oái ăm thay, Trần Kiện đầu hàng và cộng tác đắc lực với giặc. Khi quân Nguyên bị đại bại, Trần Kiện theo giặc chạy về Tàu, nhưng đến ải Chi Lăng thì bị tướng quân Nguyễn Địa Lô của nhà Trần bắn chết.
4/Trần Văn Lộng: con của Nhân Thành Hầu Trần Duyệt, cháu nội của Thái sư Trần Thủ Độ, phong làm đại tướng cầm quân phòng thủ vùng sông Tam Đái. Năm 1284, đại quân của Thoát Hoan tràn vào Đại Việt và đánh phá dữ dội, Trần Văn Lộng đem toàn bộ gia quyến đầu hàng quân Nguyên, và trở mặt tấn công Đại Việt. Khi quân Nguyên bị đánh đuổi, Trần Lộng chạy về Tàu theo đám tàn quân xâm lược.

III/ Vị trí Vân Đồn trong lịch sử
Về địa lý, Vân Đồn là vị trí chiến lược, cửa ngõ phía Đông Bắc, nơi ngăn chặn những đạo thủy quân cùa quân ngoại nhập muốn vào nước ta bằng đường biển. Về lịch sử, Thời nhà Lý, từ 12/1075 đến 3/1076 Việt Quốc Công Lý Thường Kiệt áp dụng chiến sách "Tiên Phát Chế Nhân" trong kế hoạch Phạt Tống đem quân đánh Khâm châu, Liêm châu và Ung châu thì Vân Đồn và Móng Cái là địa điểm tập kết quân trước khi xuất phát.kết. Trong trận chiến giữ nước chống quân Tống, khi lập phòng tuyền sông Cầu quân nhà Lý là nơi chôn vùi đoàn thuyền lương của
1075 đến 1.1076"tiên phát chế nhân" (chế ngự trước quân địch). Trong trận này, Lý Thường Kiệt đã ban hành "Phạt Tống lộ bố văn". thời Lý Thương Kiệt chống quân Tống, (1075-1077), thời Trần Hưng Đạo chống quân Nguyên Mông (1287-1288). Khi Lý Thường Kiệt đem quân đánh Khâm Châu, Liêm Châu và Ung Châu, thì Vân Đồn và Móng Cái là địa điểm tập kết quân nhà Lý. Khi Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến Sông Cầu để chống quân Tống, Vân Đồn là căn cứ của thủy quân nhà Lý để ngăn chặn thủy quân Tống, không cho ngược sông để hội quân với bộ binh địch, nên quân Tống đã bại trận…
-Đọc lại lịch sử Việt Nam năm 1287 dưới thời vua Trần Nhân Tông, giặc Tàu gồm Thoát Hoan, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Lương Văn Hổ mang hơn 50 vạn binh sang đánh VN, chúng tiến quân đánh đâu thắng đó vào tận tới Thăng Long.
Trách nhiệm chỉ huy tại Vân Đồn rất nặng nề: vừa phải ngăn chặn tiêu diệt quân địch xâm lăng, vừa phải quản lý người nước ngoài. Lịch sử ghi nhận danh tướng Trần Khánh Dư đời Trần đã hoàn thành nhiệm vụ đó, trong cuộc chiến tranh chống Nguyên Mông, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép như sau: “Khi ấy, thuỷ quân Nguyên đánh vào Vân Đồn, Hưng Đạo Vương giao hết công việc biên thuỳ cho Phó tướng Vân Đồn là Nhân Huệ Vương Khánh Dư. Khánh Dư đánh thất lợi Thượng hoàng được tin, sai Trung sứ xiềng Khánh Dư giải về kinh. Khánh Dư nói với Trung sứ: “Lấy quân pháp mà xử tôi xin chịu tội, nhưng xin khất hai, ba ngày, để mong lập công rồi chịu tội búa rìu cũng không muộn.”.
Khánh Dư liệu biết quân giặc đã qua, thuyền vận tải tất theo sau, nên thu thập tàn binh dợi đánh. Chẳng bao lâu thuyền vận tải của địch đến, Khánh Dư đánh thắng, bắt được tù binh, quân lương khí giới giặc nhiều không kể xiết. Được tin, Thượng hoàng tha cho tội trước và nói: “Chỗ trông cậy của quân Nguyên là lương thảo khí giới, nay đã bị ta bắt, sợ nó chưa biết có thể còn hung hăng chăng?”. Bèn tha những tên bị bắt về doanh trại quân Nguyên để báo tin.
Để ngăn ngừa và phát hiện kẻ gian, Tướng quân Trần Khánh Dư ra lệnh quân trấn giữ Vân Đồn phài để đội nón Ma Lôi (loại nón lá do làng Ma Lôi sàn xuất).
-Vân Đồn tại tọa độ 21,104981,107.482350 ở vị trí chiến lược nằm trên đường thủy xâm nhập Việt Nam, là con đường thủy từ cửa Ngọc Sơn gần biên giới. Muốn đến cửa sông Bạch Đằng, bắt buộc phải qua Vân Đồn. Từ đó chúng hoạch định 5 con đường sông, để tấn công vùng châu thổ sông Hồng hoặc kinh thành Thăng Long như sau:
– Đường rẽ vào sông Bạch Đằng, cho đến thượng lưu sông Đuống, giáp với thành Thăng Long (Hà Nội)
– Đường rẽ vào cửa Cấm qua các huyện An Dương (Hải Phòng), Nam Sách (Hải Dương), thuỷ đạo này dẫn vào nội địa nước ta.
– Đường rẽ vào sông Lạch Tray, Hải Phòng đi thẳng đến kinh đô của nhà Mạc; ngoài ra còn có thể noi theo các tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh để xâm nhập nội địa.
– Ngả rẽ vào sông Văn Úc Hải Phòng, qua các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, để vào nội địa; ngoài ra còn có thể đánh bọc phía nam kinh đô Cổ Trai của nhà Mạc.
– Một ngả rẽ khác theo sông Thái Bình, chuyển qua sông nhỏ vào huyện Khoái Châu, Hưng Yên, theo Hàm Tử quan đến sông Hồng Hà. mà vào.
Về phương diện kinh tế, Vân Đồn là nơi đầu tiên thuyền bè ngoại quốc đến buôn bán, thời nhà Lý cho lập thương cảng tại nơi này. Mùa xuân tháng 2 năm 1149 thuyền buôn 3 nước Java, Bồ Lạc (?), Tiêm La (Thái Lan) vào Hải Đông (Quảng Ninh) xin buôn bán, bèn cho lập ở nơi hải đảo gọi là Vân Đồn, để mua bán hàng hóa quí, dâng tiến sản vật địa phương… Lái buôn các nước không được tự tiện vào nội trấn, mà phải ở Vân Đồn hay Vạn Ninh.”

  Tống Phước Hiến
    Tham khảo:
-Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – Ngô Sĩ Liên.
-Việt Sử Toàn Thư – Phạm Văn Sơn
-Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim
--Đại Nam Nhất Thống Chí
-Nhìn Lại Sử Việt – Lê Mạnh Hùng
-Việt Sử Đại Cương – Trần Gia Phụng
-Tự Điển Danh Nhân Việt Nam - Trịnh Vân Thanh
-Những bải viết trẻn mạng lưới điện toán (Net) và facebook






Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn